Trang chủLiên hệ Sơ đồ cổngEnglish  
Tất cả chủ đề
Độc giả: Võ Hoàng Liên Mihn - 6 Lê Lợi, Huế
Kính gởi Bộ TTTT Trung tâm CNTT TT Huế là đơn vị Hành chính sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh TT Huế, được giao nhiệm vụ quản lý và điều hành Trang web Khám phá Huế. Trung tâm chúng tôi đã gởi hồ sơ xin cấp phép Khám phá Huế là trang Thông tin điện tử, sở Thông tin và truyền thông Huế đã tiếp nhận và rà soát hồ sơ. Phía sở TTTT Huế đã kiểm tra và tiếp nhận 01 bộ hồ sơ, đồng thời yêu cầu Trung tâm chúng tôi gởi 01 bộ hồ sơ ra Cục quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử, thời gian và địa chỉ gửi như sau: Thời gian gửi: ngày 10/01/2013 Địa chỉ: Cục quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử 17 Phố Trần Quốc Toản- Quận Hoàn Kiếm Hà Nội Đến nay Trung tâm chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ thông tin gì từ phía cục Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử về hồ sơ xin cấp phép của Trung tâm chúng tôi. Nay tôi xin hỏi là tôi phải liên hệ với đơn vị nào để hỏi về hồ sơ của Trung tâm chúng tôi. Xin cám ơn

Đề nghị anh (chị) liên hệ trực tiếp với Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử để được giải đáp cụ thể:
Địa chỉ liên hệ: http://mic.gov.vn/gioithieu/Trang/CucQuanLyPTTH.aspx

Trân trọng

Độc giả: Nguyễn Xuân Hải - TP Hồ Chí Minh
Tôi có nhập khẩu mặt hàng Hộp nối mạng vi tính(Hub)các loại từ 5 cổng tới 48 cổng, loại nối cổng RJ45 (không có chức năng thu phát sóng vô tuyến điện) Xin quý Bộ cho biết những mặt hàng khi nhập khẩu có cần xin giấy phép nhập khẩu của Bộ hay không? có thuộc Thông tư 14/2011/TT-BTTTT ngày 07/06/2011 của Bộ hay không? ( Vì Hộp nối mạng vi tính không dây Wireless(có chức năng thu phát sóng) và Hộp nối mạng loại chia cổng RJ45(không có chức năng thu phát sóng) có cùng mã số HS là 8517622100. Xin Quý Bộ trả lời giúp tôi, Tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin trả lời bạn như sau:  công văn số 296/QLCT-NV hướng dẫn thực hiện Thông tư số 14/2011/TT-BTTTT  các hàng hóa có mã số HS 8517 62 21 00 không có tính năng kỹ thuật là thiết bị phát vô tuyến  điểm- điểm, điểm – đa điểm thiết bị thu phát sóng vô tuyến sử dụng kỹ thuât điều chế trải phổ (trừ thiết bị trạm gốc) thì không thuộc đối tượng cần có giấy phép nhập khẩu. Do vậy bạn cần kiểm tra thiết bị của bạn có thuộc mặt hàng ở trên không? Nếu có bạn lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu gửi về địa chỉ Cục Viễn thông, Tòa nhà Cục Viễn thông, phường Yên Hòa, Quận Cầu giấy, Hà Nội.
Các bước tiến hành cấp giấy phép nhập khẩu như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại: Trụ sở chính của Cục và các Trung tâm trực thuộc Cục.
a. TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
b. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
c. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
3. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ
Cục Viễn thông tiếp nhận hồ sơ, phân công kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng của tổ chức, cá nhân.
4.Trả kết quả
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Viễn thông cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân;
- Trường hợp từ chối cấp giấy phép, Cục Viễn thông trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do từ chối cấp phép cho tổ chức, cá nhân.
Hồ sơ đề nghị bao gồm:
1. Cấp giấy phép nhập khẩu:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu;
- Bản sao:
+ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoặc Quyết định/giấy phép thành lập, hoặc giấy chứng nhận đầu tư/giấy phép đầu tư, hoặc chứng minh nhân dân/hộ chiếu,.. . (Bản sao có chứng thực (đối với trường hợp gửi qua đường bưu chính) hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu (đối với trường hợp nộp trực tiếp);
+ Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn;
+ Tài liệu kỹ thuật của thiết bị;
2. Hợp đồng thương mại hoặc tờ khai hải quan hoặc giấy tờ thể hiện số lượng liên quan đến lô hàng nhập khẩu.
Thời hạn giải quyết: 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ hợp lệ
Độc giả: Nguyễn Thanh Hương - TP Huế
Tôi là hộ kinh doanh cá thể ngành nghề photocoppy(hiện tôi có nhận photo một số xuất bản phẩm).Tôi không có văn bằng, chứng chỉ đã được bồi dưỡng kiến thức quản lý về in do cơ sở đào tạo chuyên ngành cấp. Vậy tôi có thể xin giấy phép hoạt động in do cơ quan quản lý ở địa phương cấp không?
Theo Điều 14 Nghị định 111/2005/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản có quy định hoạt động in xuất bản phẩm là hoạt động kinh doanh có điều kiện; 
Điều kiện cấp giấy phép: 1. Bạn phải có văn bằng do cơ sở đào tạo nghề in cấp hoặc chứng chỉ xác nhận đã được bồi dưỡng kiến thức quản lý về in do cơ sở đào tạo chuyên ngành cấp.
2. Cơ sở in của bạn có dây chuyền thiết bị in và gia công sau in mới được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.
 Khị bạn đáp ứng 2 Điều kiện trên ban gửi hồ sơ xin cấp phép về các Sở Thông tin và Truyền thông sở tại.
Thời gian giải quyết: 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ và thủ tục này không phải nộp phí
Độc giả: Nguyễn Văn Nam - 12 Trần Phú
Gia đình tôi là cơ sở kinh doanh photocoppy tư nhân. Hiện tôi muốn mua máy photocoppy màu để sử dụng vào mục đích kinh doanh của cơ sở. Xin hỏi như vậy tôi phải làm những thủ tục gì, và điều kện như thế nào?
Theo thông tư số 22/2010/TT-BTTTT Cơ quan tổ chức sử dụng máy photocopy mầu phải ban hành quy chế quản lý và sử dụng máy gửi.
Hồ sơ đề nghị nhập khẩu máy in màu bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu;
b) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản gốc để đối chiếu một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư hoặc quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức đề nghị nhập khẩu;
c) Quy chế quản lý và sử dụng máy photocopy màu theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 04/2008/TT-BTTTT;
d) Ca-ta-lô của máy.
Hồ sơ đề nghị xin gửi về Cục Xuất bản, số 10 Đường Thành, Hà Nội
Thời hạn giải quyết: 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Độc giả: Nguyen Thi Tuyet - 208 Trần Hưng Đạo - TP. Nam Định
Công ty tôi đang làm hồ sơ xin phép Bộ TTTT để liên kết sản xuất chương trình. Xin hỏi hồ sơ gồm những văn bản, giấy tờ gi? xin trân trọng cảm ơn
Xin trả lời bạn như sau: Theo quy định tại Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT
Hồ sơ bao gồm:
Các thông tin về tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng của sản phẩm liên kết; tên, địa chỉ và năng lực của đối tác liên kết, hình thức liên kết, Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết.
Hồ sơ gửi về Cục Quản lý Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Độc giả: Hoàng Minh - Tây Hồ, Hà Nội
Theo nghị định 102/2009/NĐ-CP về quản đầu tư ứng dụng CNTT sự dụng nguồn vốn NN có yêu cầu các tổ chức tư vấn phải có các chứng chỉ về quản lý dự án CNTT hoặc giám sát .... Trên trang web của Bộ cũng không thấy thông tin công bố các cơ sở đào tạo và cấp bằng ... Vậy xin hỏi nếu cá nhân, tổ chức muốn có các chứng chỉ trên theo qui định thì sẽ học tập và thi ở đâu ? Xin trân trọng cám ơn.
Xin trả lời bạn như sau:  ngày 20/12/2010 Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 1987/QĐ-BTTTT quy định Chương trình khung và mẫu Giấy chứng nhận đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin.
Các cơ sở đủ điều kiện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý, đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin gồm:
1. Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông (Information and Communications Public Management School).
- Địa chỉ: A5/D5 - Khu Đô thị mới Cầu Giấy - Dịch Vọng Hậu - Cầu Giấy - Hà Nội
- Tel: 04.37665959
- Fax: 04.37668994
- Website: www.mic-edu.vn
2. Trung tâm Chính phủ Điện tử (E - Government Center).
- Địa chỉ: Số 6 - Chùa Một Cột - Ba Đình - Hà Nội
- Tel: 080 48137
- Fax: 080 48299
- Website: www.egovc.gov.vn
3. Trung tâm Tư vấn nghiệp vụ và hỗ trợ đánh giá hiệu quả đầu tư công nghệ thông tin (Advising and Supporting Center for Evaluating the Effectiveness of IT Investment)
- Địa chỉ:  Số A7, Lô A/D6 Đường Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội
- Tel: +84-4-3792 5030
- Fax: +84-4-3792 5031
- Website: http://tuvancntt.gov.vn
4. Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng Thông tin và Truyền thông (Information and Communications Training Center)
- Địa chỉ: Tầng 8 - 115 Trần Duy Hưng - Cầu Giấy - Hà Nội
- Tel: (84-4) 3.5 565 033/ Máy lẻ 33
- Website: www.ictc.niics.gov.vn
5. Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt - Hàn (Vietnam - Korea Friendship Information Technology College)
- Địa chỉ: Phường Hòa Quý, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng
- Tel: 0511.3962378
- Fax: 0511.3962976
- Website: www.viethanit.edu.vn  
Độc giả: Đỗ Khánh - 36/31/14 Pháo Đài Láng, Đống Đa, Hà Nội
Xin kính chào các anh/chị. Tôi là công ty TNHH MTV VIỆT TÍN ở Hà Nội. Tôi muốn hỏi về thủ tục xin giấy phép hoạt động truyền hình trả tiền (truyền hình cáp) như sau: - Loại hình công ty chúng tôi có được cấp phép không (trong đăng ký kinh doanh có được phép hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ điện tử-viễn thông)? - Hình thức hoạt động là chuyển tiếp các chương trình của K+, VTC vệ tinh, VTC mặt đất. Không biên tập, không biên soạn lại, chỉ chuyển tiếp thuần túy thôi. - Phạm vi hoạt động: ở tất cả các thị trấn Huyện, thị, khu đông dân cư có nhu cầu mà thôi. Mong các anh chị hướng dẫn về thủ tục hành chính. Xin chân thành cám ơn nhiều. Đỗ Khánh
Xin trả lời bạn như sau:
Để thực hiện cấp giấy phép hoạt động truyền hình trả tiền gồm các bước như sau:
1.Đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình hoàn thiện hồ sơ theo quy định và nộp trực tiếp hoặc thông qua hệ thống bưu chính về Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, hoặc Bộ Thông tin và Truyền thông
2. Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử thẩm định hồ sơ và trình Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, có văn bản thoả thuận với Ban Tuyên giáo Trung ương
3. Sau khi có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Ban Tuyên giáo Trung ương, Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử sẽ trình Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp Giấy phép
4. Đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình nhận được phản hồi về việc cấp phép hoạt động truyền hình trả tiền sau 30 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ
Hồ sơ xin cấp giáy phép bao gồm:
1. Đơn xin cấp Giấy phép hoạt động truyền hình trả tiền
2. Đề án hoạt động đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
3. Quyết định thành lập đơn vị hoạt động truyền hình trả tiền (nếu có);
4. Quyết định bổ nhiệm người chịu trách nhiệm nội dung chương trình truyền hình trả tiền
5. Sơ yếu lý lịch người chịu trách nhiệm nội dung chương trình truyền hình trả tiền
6. Danh sách tổng hợp đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên
7. Hợp đồng bản quyền chương trình (nếu có)
8. Hợp đồng tham gia đầu tư (nếu có);
Đối với trường hợp xin phép hoạt động truyền hình cáp, hồ sơ phải được trình qua Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố - cơ quan nhà nước về báo chí nơi xin phép hoạt động truyền hình cáp và phải được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chấp thuận bằng văn bản trước khi nộp hồ sơ xin phép hoạt động truyền hình cáp cho Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử và Bộ Thông tin và Truyền thông.
Thời hạn giải quyết : 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Lệ phí: Không có
Độc giả: Dương Ngọc Lâm - Số 2 ngõ 36 đường Nguyên Hồng, đống đa, Hà Nội
Kính gửi quý cơ quan, Công ty chúng tôi có trụ sở tại Hà Nội, hiện có một thắc mắc muốn nhờ quý Bộ giải đáp. Công ty chúng tôi chuyên nhập khẩu máy định vị vệ tinh của hãng Garmin (máy chỉ thu tín hiệu định vị tọa độ). Thời gian gần đây bên hải quan của khẩu yêu cầu chúng tôi phải làm đơn xin giấy phép "ĐĂNG KÝ KINH DOANH VIỆC LẮP ĐẶT, SỬA CHỮA THIẾT BỊ THU TÍN HIỆU TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP TỪ VỆ TINH (TVRO)”. Vậy xin quý cơ quan tư vấn: với thiết bị máy định vị chúng tôi nhập khẩu, công ty chúng tôi có phải làm đơn xin giấy phép kinh doanh như mẫu này không? Vì thiết bị này không thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh mà chỉ thu tín hiệu vệ tinh để xác định tọa độ hiện tại. Chúng tôi phải nộp đơn xin ở đâu để có công văn trả lời cấp phép hoặc có trả lời bằng văn bản không phải xin phép giấy tờ này? Xin gửi link sản phẩm để qúy cơ quan tiện tham khảo: http://tinduc.vn/vn/detail/product/may-dinh-vi-garmin-gpsmap-76csx/279 . Chúng tôi rất mong quý Sở hỗ trợ doanh nghiệp để làm đúng thủ tục và đúng pháp luật cũng như làm cơ sở giải trình với hải quan cửa khẩu . Một lần nữa xin cảm ơn quý cơ quan và đợi hồi đáp sớm. (Xin gửi một bản copy thư trả lời tới địa chỉ email của tôi: tdcmail@hn.vnn.vn , xin cảm ơn)
Xin trả lời bạn như sau:
Các bước tiến hành xin cấp giấy phép như sau:
1. Cơ quan, tổ chức hoàn thiện hồ sơ theo quy định và nộp về Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông
2. Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký cho cơ quan, tổ chức
3. Cơ quan, tổ chức nhận phản hồi về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh việc lắp đặt, sửa chữa thiết bị thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ
Hồ sơ xin cấp giấy phép như sau:
1. Tờ khai đăng ký kinh doanh việc lắp đặt, sửa chữa thiết bị thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh (TVRO) (Mẫu tờ khai ban hành kèm theo Quyết định số 08/2002/QĐ-BVHTT)
 2. Ban sao có công chứng giấy phép hoạt động, giấy phép thành lập cơ quan, tổ chức
Thời hạn giải quyết:15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Lệ phí: Không có
Độc giả: PHẠM THANH VIỆT - 800 ÂU CƠ, TÂN BÌNH, TP HCM
Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực Phòng khám Y Khoa, cung cấp dịch vụ y tế cho người dân, website http://medinet.vn. Hiện công ty chúng tôi vừa thử nghiệm chức năng tư vấn trực tuyến cho bệnh nhân tại nhà thông qua internet tại website http://online.medinet.vn. Tôi muốn hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông công ty chúng tôi có được phép tổ chức tư vấn trực tuyến như vậy hay không, chúng tôi có vi phạm hay không ? Mong được tư vấn. Xin chân thành cảm ơn.
Xin trả lời bạn như sau:
Việc thiết lập Website tư vấn trực tuyến cho bệnh nhân
của bạn phải có giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp
Các bước tiến hành thủ tục cấp giấy phép như sau:
1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp.
2. Thụ lý hồ sơ Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp địa phương và có văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp phép. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp nhận và cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp.
3. Trả kết quả Tổ chức, doanh nghiệp nhận phản hồi về việc cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp phép như sau:
1. Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet; 2. Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp) Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư); Quyết định thành lập (đối với tổ chức không phải doanh nghiệp) có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử xin cấp phép và kèm theo văn bản chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có); Giấy phép hoạt động báo chí (đối với cơ quan báo chí). 3. Bằng tốt nghiệp đại học (bản sao có chứng thực) và sơ yếu lý lịch của người chịu trách nhiệm quản lý trang thông tin điện tử có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có ảnh và dấu giáp lai; 4. Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung sau:
+ + Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
+ + Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog…);
+ + Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
+ + Tên miền dự kiến sử dụng;
+ + Văn bản chấp thuận của các tổ chức cung cấp tin để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn tin.
+ + Trường hợp sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền này phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng tại thời điểm xin cấp phép. Trường hợp sử dụng tên miền quốc tế thì tên miền này đã được thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
Lệ phí: Không có.
Độc giả: Nguyễn Lê Mạnh - Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Xin chào quý cơ quan. Cho tôi hỏi quý cơ quan một câu hỏi như sau: Hiện tôi đang làm một Website chuyên về quảng cáo, rao vặt và mua bán trực tuyến. Vậy website của tôi có phải xin giấy phép gì không? và nếu có xin giấy phép ở đâu? gồm những thủ tục gì? Rất mong quý cơ quan trả lời. Chân thành cảm ơn quý cơ quan!
Xin trả lời bạn như sau:
Thiết lập Website của bạn phải có giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
Các bước tiến hành thủ tục cấp giấy phép như sau:
1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp.
2. Thụ lý hồ sơ Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp địa phương và có văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp phép. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp nhận và cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp.
3. Trả kết quả Tổ chức, doanh nghiệp nhận phản hồi về việc cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp phép như sau
1. Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet; 2. Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp) Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư); Quyết định thành lập (đối với tổ chức không phải doanh nghiệp) có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử xin cấp phép và kèm theo văn bản chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có); Giấy phép hoạt động báo chí (đối với cơ quan báo chí). 3. Bằng tốt nghiệp đại học (bản sao có chứng thực) và sơ yếu lý lịch của người chịu trách nhiệm quản lý trang thông tin điện tử có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có ảnh và dấu giáp lai; 4. Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung sau:
+ + Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
+ + Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog…);
+ + Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
+ + Tên miền dự kiến sử dụng;
+ + Văn bản chấp thuận của các tổ chức cung cấp tin để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn tin.
+ + Trường hợp sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền này phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng tại thời điểm xin cấp phép. Trường hợp sử dụng tên miền quốc tế thì tên miền này đã được thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
Lệ phí: Không có.
Độc giả: Nguyễn lê thanh nhàn - Hà Nội
Kính gửi Quý Bộ! Tôi muốn xin nội dung 11 Quy chuẩn quốc gia về Viễn thông theo Thông tư 10/2011/TT-BTTTT ra ngày 14/4/2011 thì xin ở đâu? Tôi đã download nhưng chỉ có nội dung Thông tư chứ không có 11 Quy chuẩn. Xin cảm ơn Qúy Bộ!
Xin trả lời bạn như sau:
Bạn có thể vào trang Website của Bộ Thông tin và Truyền thông tải 11 Quy chuẩn quốc giá về viễn thông
Địa chỉ tải Bộ tiếu chuẩn:
http://mic.gov.vn/mra/mra_qc/qcktqgdbh/Trang/Quychu%E1%BA%A9nk%E1%BB%B9thu%E1%BA%ADtqu%E1%BB%91cgiatrongl%C4%A9nhv%E1%BB%B1cvi%E1%BB%85nth%C3%B4ng.aspx
Độc giả: Vũ Hoàng Anh - 26/12 Chính Kinh - Thanh Xuân
Tôi muốn hỏi về việc để cho ra đời một kênh truyền hình giải trí cần có những giấy phép gì và cần những điều kiện gì? Rất cảm ơn và mong sẽ sớm nhận được hồi âm!
Xin trả lời bạn như sau:
Muốn cho ra đời một kênh truyền hình cần phải có Giấy phép sản xuất kênh chương trình phát thanh quảng bá
Các bước tiến hành :
1.Tổ chức nộp hồ sơ đến cơ quan cấp phép
2. Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp nhận và thẩm định hồ sơ. Trường hợp không cấp Giấy phép trả lời và nêu rõ lý do.
Hồ sơ bao gồm
a. Đơn đề nghị cấp Giấy phép sản xuất kênh chương trình quảng bá có xác nhận của cơ quan chủ quản
b. Bản sao có chứng thực Giấy phép hoạt động phát thanh, Giấy phép hoạt động truyền hình;
c. Đề án sản xuất kênh chương trình quảng bá được cơ quan chủ quản phê duyệt, trong đó nêu rõ:
   Tên gọi, biểu tượng, tôn chỉ, mục đích của kênh chương trình quảng bá;
   Nội dung kênh chương trình quảng bá; thời gian, thời lượng phát sóng chương trình của từng ngày trong một (01) tuần; thời lượng phát sóng chương trình mới trung bình trong một (01) ngày; khung chương trình dự kiến phát sóng trong một (01) tháng, đối tượng khán giả;
 Năng lực sản xuất chương trình, gồm: cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính (thể hiện bằng dự toán kinh phí sản xuất kênh chương trình trong hai (02) năm và nguồn tài chính đáp ứng được dự toán kinh phí này);
Quy trình sản xuất và quản lý nội dung kênh chương trình quảng bá;
Phương thức kỹ thuật phân phối kênh chương trình quảng bá;
Hiệu quả kinh tế, xã hội.
Trường hợp đề nghị cấp giấy phép sản xuất nhiều kênh chương trình, phải làm đề án riêng đối với từng kênh chương trình cụ thể.
d) Danh sách dự kiến cán bộ lãnh đạo phụ trách các phòng, ban nghiệp vụ hoặc kênh chương trình; phóng viên, biên tập viên chịu trách nhiệm sản xuất kênh chương trình;
đ) Văn bản của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác nhận đủ điều kiện về trụ sở, trang thiết bị, nhân sự và các điều kiện khác theo phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với việc sản xuất kênh chương trình quảng bá của tổ chức hoạt động phát thanh, truyền hình ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Hồ sơ lập thành hai (02) bộ là bản chính nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính về Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử).
Thời hạn giải quyết: 30 ngày kể từ nhận được hồ sơ đầy đủ
Lệ phí: Không có
Độc giả: Lê Hải Huyền - Công ty TNHH khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ Việt Nam
Công ty tôi là công ty chuyên về công nghệ thông tin. Hiện tại công ty chúng tôi có mua tên miền ở nước ngoài có tên miền là ".com". Tôi đang tiến hành làm thủ tục xin giấy phép ICP nhưng người ta yêu cầu tôi phải có giấy chứng nhận đăng ký tên miền. Vậy công ty chúng tôi cần xin giấy chứng nhận đăng ký tên miền ở đâu? Và để xin giấy phép ICP thì chúng tôi cần làm gì nếu xin cho trang web đó của mình. Xin trân thành cảm ơn Quý cơ quan!
Xin trả lời bạn như sau:
Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký tên miền: gồm có các bước sau:
+ Chuẩn bị hồ sơ: Tổ chức, doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ theo quy định
+ Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ về: Trung tâm Internet Việt Nam - Bộ Thông tin và Truyền thông – 18 Nguyễn Du – Hà Nội
 + Thẩm định hồ sơ và trả lời kết quả: Trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định của doanh nghiệp, Trung tâm sẽ gửi văn bản thông báo xác nhận đã nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ và đưa vào danh sách quản lý tại Website www.thongbaotenmien.vn  hoặc văn bản yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ trong trường hợp hồ sơ đăng ký không hợp lệ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp tên miền gồm:
+ Bản khai đăng ký hoạt động Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam (theo mẫu quy định tại Phụ lục I – Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT)
+ Bản sao (kèm bản gốc để đối chiếu nếu nộp hồ sơ trực tiếp, có chứng thực nếu gửi hồ sơ qua đường bưu chính, chuyển phát) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định thành lập.
Số lượng hồ sơ: 01 bộ
Nơi nhận:  Trung tâm Internet Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông - 18 Nguyễn Du – Hà Nội
Thời hạn giải quyết:  10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Lệ phí: Không có.
Độc giả: Nguyễn Hồng Nhung - Tầng 9 tháp A tòa nhà Handi Resco, 521 Kim Mã, Hà Nội
Quý Bộ cho hỏi về qui định xin giấy phép nhập khẩu và hợp chuẩn đối với thiết bị nhập thay thế của linh, phụ kiện của thiết bị thu phát trạm gốc BTS và linh, phụ kiện của thiết bị Viba SDH,PDH: Năm 2010, doanh nghiệp chúng tôi còn làm thủ tục tạm xuất/tái nhập để sửa chữa cho linh,phụ kiện của thiết bị thu phát trạm gốc BTS/thiết bị viba SDH,PDH. Hiện nay, do hãng sản xuất không sửa được nên đã gửi hàng thay thế cho chúng tôi nhưng khi chúng tôi tiến hành làm thủ tục hải quan cho lô hàng thay thế, hải quan yêu cầu chúng tôi phải xin giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông cho phần hàng thay thế này. Doanh nghiệp chúng tôi gửi câu hỏi đến Quý Bộ: Doanh nghiệp chúng tôi phải xin giấy phép nhập khẩu, giấy phép hợp chuẩn cho phần hàng thay thế không? Nếu có thì Quý Bộ cho biết thủ tục xin giấy phép và những giấy tờ cần thiết để xin giấy phép?Chi phí và thời gian cấp phép? Rất mong nhận được sự phản hồi sớm của Quý Bộ. Doanh nghiệp chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
Xin trả lời bạn như sau:
Để được cấp giấy phép nhập khẩu và hợp chuẩn gồm các bước tiến hành như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại: Trụ sở chính của Cục và các Trung tâm trực thuộc Cục.
a. TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
b. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
c. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
3. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ
Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông tiếp nhận hồ sơ, phân công kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng của tổ chức, cá nhân.
4.Trả kết quả
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân;
- Trường hợp từ chối cấp giấy phép, Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do từ chối cấp phép cho tổ chức, cá nhân.
Hồ sơ đề nghị bao gồm:
1. Cấp giấy phép nhập khẩu:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu;
- Bản sao:
+ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoặc Quyết định/giấy phép thành lập, hoặc giấy chứng nhận đầu tư/giấy phép đầu tư, hoặc chứng minh nhân dân/hộ chiếu,.. . (Bản sao có chứng thực (đối với trường hợp gửi qua đường bưu chính) hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu (đối với trường hợp nộp trực tiếp);
+ Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn;
+ Tài liệu kỹ thuật của thiết bị;
2. Hợp đồng thương mại hoặc tờ khai hải quan hoặc giấy tờ thể hiện số lượng liên quan đến lô hàng nhập khẩu.
Thời hạn giải quyết: 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ hợp lệ
Độc giả: Nguyễn Thanh Hà - Ba Đình, Hà nội
Kính gửi Bộ Thông Tin và Truyền Thông, Chúng tôi là doanh nghiệp có nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm điện tử có sử dụng các loại tần số và dịch vụ viễn thông dưới đây: - Thiết bị có module thu, phát sóng RF ở tần số 433 Mhz. - Thiết bị dạng giám sát hành trình có sử dụng module dịch vụ mạng GSM (GPRS/SMS - cho điều khiển, giám sát) và module GPS. Chúng tôi muốn hỏi để bán các thiết bị trên, chúng tôi có phải đăng ký hợp quy, hợp chuẩn hay công bố gì không? Nếu có chúng tôi phải thực hiện theo văn bản nào của quý Bộ? Xin cảm ơn đã đọc và phúc đáp.
Xin trả lời bạn như sau:
Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư 32/2011/TT-BTTTT ban hành danh mục sản phẩm hảng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy. Bạn có thể kiểm tra thiết bị của bạn có thuộc danh mục thuôc thông tư trên không.
Nếu có các bước tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
 Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy theo các bước sau:
- Tự lấy mẫu sản phẩm và thực hiện đo kiểm tại các đơn vị đo kiểm được chỉ định hoặc thừa nhận, để có kết quả đo kiểm sản phẩm.
- Khai báo đầy đủ, chính xác thông tin vào đơn đề nghị chứng nhận hợp quy (theo mẫu tại phụ lục II, Thông tư 06/2009/TT-BTTTT).
- Chuẩn bị các giấy tờ khác theo yêu cầu trong thành phần hồ sơ.
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy tại các Tổ chức chứng nhận thuộc Cục Viễn thông ở các địa chỉ sau:
a.Khu vực Miền Bắc:
TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
Thực hiện việc chứng nhận cho 28 tỉnh, thành phố gồm: Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Yên Bái
b.Khu vực Miền Nam:
TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
Thực hiện việc chứng nhận cho 22 tỉnh, thành phố gồm: An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và Thành phố Hồ Chí Minh.
c. Khu vực Miền Trung:
TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
Thực hiện việc chứng nhận cho 13 tỉnh, thành phố: Bình Định, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Khánh Hòa, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng.
3. Tiếp nhận và đánh giá:
- Tổ chức chứng nhận tiếp nhận, kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy.
- Tổ chức chứng nhận đánh giá sự phù hợp của mẫu sản phẩm trên cơ sở kết quả đo kiểm hợp lệ so với quy chuẩn kỹ thuật áp dụng để chứng nhận.
4. Trả kết quả
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kế từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Tổ chức chứng nhận cấp Giấy chứng nhận có thời hạn tối đa ba (03) năm cho từng chủng loại sản phẩm của tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận.
- Trong trường hợp không cấp giấy chứng nhận, Tổ chức chứng nhận thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận và nêu rõ lý do.
Hồ sơ đề nghị:
- Ðơn đề nghị chứng nhận hợp quy (theo mẫu tại phụ lục II, Thông tư 06/2009/TT-BTTTT);
- Bản sao giấy tờ thể hiện tư cách pháp nhân của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Tài liệu kỹ thuật của sản phẩm thể hiện đầy đủ các nội dung: Tên, ký hiệu và các thông tin kỹ thuật của sản phẩm; ảnh chụp bên ngoài; hãng sản xuất;
- Kết quả đo kiểm sản phẩm của đơn vị đo kiểm có đủ thẩm quyền quy định tại Khoản 1 và 3 Điều 5 của Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT cấp cho tổ chức, cá nhân và được cấp trong vòng hai (02) năm tính đến ngày nộp hồ sơ;
- Bản sao chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm (đối với sản phẩm sản xuất trong nước).
Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)
Thời hạn giải quyết: 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, đầy đủ (không quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt)
Lệ phí: Có (phí và lệ phí quản lý chất lượng bưu điện và hoạt động bưu chính viễn thông)
Độc giả: Nguyễn Thanh Hà - 455, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội
Kính gửi Bộ TT&TT, Công ty chúng tôi có nghiên cứu và sản xuất 02 loại sản phẩm liên quan đến thu - phát sóng và định vị để kinh doanh như sau: - Thiết bị thu phát sóng RF với tần số 433 Mhz. - Thiết bị giám sát hành trình phương tiện vận tải sử dụng công nghệ GPRS/SMS (mạng GSM) và GPS (định vị toàn cầu) thông qua các module nhập khẩu từ nước ngoài. Vậy quý cơ quan có thể cho tôi biết các thiết bị trên có phải chứng nhận hoặc công bố hợp quy, hợp chuẩn gì không? và theo văn bản nào của Bộ TT&TT. Xin cảm ơn.
Xin trả lời bạn như sau:
Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư 32/2011/TT-BTTTT ban hành danh mục sản phẩm hảng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy. Bạn có thể kiểm tra thiết bị của bạn có thuộc danh mục thuôc thông tư trên không.
Nếu có các bước tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
 Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy theo các bước sau:
- Tự lấy mẫu sản phẩm và thực hiện đo kiểm tại các đơn vị đo kiểm được chỉ định hoặc thừa nhận, để có kết quả đo kiểm sản phẩm.
- Khai báo đầy đủ, chính xác thông tin vào đơn đề nghị chứng nhận hợp quy (theo mẫu tại phụ lục II, Thông tư 06/2009/TT-BTTTT).
- Chuẩn bị các giấy tờ khác theo yêu cầu trong thành phần hồ sơ.
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy tại các Tổ chức chứng nhận thuộc Cục Viễn thông ở các địa chỉ sau:
a.Khu vực Miền Bắc:
TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
Thực hiện việc chứng nhận cho 28 tỉnh, thành phố gồm: Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Yên Bái
b.Khu vực Miền Nam:
TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
Thực hiện việc chứng nhận cho 22 tỉnh, thành phố gồm: An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và Thành phố Hồ Chí Minh.
c. Khu vực Miền Trung:
TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
Thực hiện việc chứng nhận cho 13 tỉnh, thành phố: Bình Định, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Khánh Hòa, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng.
3. Tiếp nhận và đánh giá:
- Tổ chức chứng nhận tiếp nhận, kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy.
- Tổ chức chứng nhận đánh giá sự phù hợp của mẫu sản phẩm trên cơ sở kết quả đo kiểm hợp lệ so với quy chuẩn kỹ thuật áp dụng để chứng nhận.
4. Trả kết quả
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kế từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Tổ chức chứng nhận cấp Giấy chứng nhận có thời hạn tối đa ba (03) năm cho từng chủng loại sản phẩm của tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận.
- Trong trường hợp không cấp giấy chứng nhận, Tổ chức chứng nhận thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận và nêu rõ lý do.
Hồ sơ đề nghị:
- Ðơn đề nghị chứng nhận hợp quy (theo mẫu tại phụ lục II, Thông tư 06/2009/TT-BTTTT);
- Bản sao giấy tờ thể hiện tư cách pháp nhân của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Tài liệu kỹ thuật của sản phẩm thể hiện đầy đủ các nội dung: Tên, ký hiệu và các thông tin kỹ thuật của sản phẩm; ảnh chụp bên ngoài; hãng sản xuất;
- Kết quả đo kiểm sản phẩm của đơn vị đo kiểm có đủ thẩm quyền quy định tại Khoản 1 và 3 Điều 5 của Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT cấp cho tổ chức, cá nhân và được cấp trong vòng hai (02) năm tính đến ngày nộp hồ sơ;
- Bản sao chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm (đối với sản phẩm sản xuất trong nước).
Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)
Thời hạn giải quyết: 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, đầy đủ (không quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt)
Lệ phí: Có ( phí và lệ phí quản lý chất lượng bưu điện và hoạt động bưu chính viễn thông)
Độc giả: Dương Ngọc Lâm - Ngõ 36 đường Nguyên Hồng- Hà Nội
Chào quý cơ quan, tôi có một việc cần quý cơ quan làm rõ giúp. Công ty chúng tôi chuyên nhập khẩu máy định vị vệ tinh toàn cầu, loại máy định vị chỉ thu tín hiệu vệ tinh để xác định tọa độ (hãng Garmin). Vậy công ty chúng tôi có phải xin giấy phép gì khi nhập khẩu loại thiết bị này không? Vài ngày gần đây, chi cục hải quan Gia Lâm yêu cầu chúng tôi phải xin "Giấy chúng nhận đăng ký cho cơ quan, tổ chức kinh doanh việc lắp đặt, sửa chữa thiết bị thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh TVRO" từ quý cục. Tuy nhiên, chúng tôi thấy sản phẩm nhập khẩu của chúng tôi không liên quan gì đến thu tín hiệu truyền hình từ vệ tinh nên phân vân không biết làm thế nào là đúng, có phải làm công văn xin lên quý cục không? Vậy mong qúy cơ quan giải đáp giúp chúng tôi. Xin cảm ơn sự hỗ trợ của quý cơ quan và mong nhận được thông tin sớm. Ngoc Lâm
Xin trả lời bạn như sau:
Bạn có thể kiểm tra thiết bị bạn có thuộc danh mục thiết bị theo Thông tư số 14/2011/TT-BTTTT  (Nếu có) Bạn phải xin giấy phép nhập khẩu
Thuộc diện quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông chứ không phải là Giấy chúng nhận đăng ký cho cơ quan, tổ chức kinh doanh việc lắp đặt, sửa chữa thiết bị thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh TVRO
Các bước tiến hành cấp giấy phép nhập khẩu như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại: Trụ sở chính của Cục và các Trung tâm trực thuộc Cục.
a. TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
b. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
c. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
3. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ
Cục Viễn thông tiếp nhận hồ sơ, phân công kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng của tổ chức, cá nhân.
4.Trả kết quả
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Viễn thông cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân;
- Trường hợp từ chối cấp giấy phép, Cục Viễn thông trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do từ chối cấp phép cho tổ chức, cá nhân.
Hồ sơ đề nghị bao gồm:
1. Cấp giấy phép nhập khẩu:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu;
- Bản sao:
+ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoặc Quyết định/giấy phép thành lập, hoặc giấy chứng nhận đầu tư/giấy phép đầu tư, hoặc chứng minh nhân dân/hộ chiếu,.. . (Bản sao có chứng thực (đối với trường hợp gửi qua đường bưu chính) hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu (đối với trường hợp nộp trực tiếp);
+ Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn;
+ Tài liệu kỹ thuật của thiết bị;
2. Hợp đồng thương mại hoặc tờ khai hải quan hoặc giấy tờ thể hiện số lượng liên quan đến lô hàng nhập khẩu.
Thời hạn giải quyết: 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ hợp lệ
Độc giả: Trần Quang Bảo - 76 Hùng Vương - Nha Trang, Khánh Hòa
Hiện nay doanh nghhiệp chúng tôi muốn hoạt động ngành chuyển phát. Xin hỏi thực hiện theo NĐ128 hay Luật Bưu chính mới có hiệu lực. Xin cấp giấy phép hoạt động bưu chính, chuyển phát thì kiên hệ và thủ tục ra sao? Chân thành cám ơn
Xin trả lời bạn như sau:
Để xin cấp phép hoạt động bưu chính gồm các Bước sau:
1. Bước 1 Chuẩn bị hồ sơ: Doanh nghiệp khai báo đầy đủ và chính xác thông tin trong hồ sơ và nộp các giấy tờ cần thiết kèm theo trong hồ sơ (theo quy định tại Nghị định 47/2011/NĐ-CP ngày 17/06/2011 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính.)
2. Bước 2 Doanh nghiệp gửi hồ sơ về Sở Thông tin và Truyền thông vào các ngày làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
3. Bước 3 Sở TT&TT kiểm tra hồ sơ (nếu đủ thủ tục nhận/ không đủ thủ tục đề nghị cá nhân, đơn vị bổ sung hồ sơ). 4. Bước 4 Doanh nghiệp nhận được kết quả phản hồi.
Hồ sơ Cấp phép bao gồm:
1. - Đơn đề nghị cấp giấy phép bưu chính (theo mẫu).
2. - Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực chuyển phát.
3. - Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp (nếu có)
4. - Phương án kinh doanh;
5. - Mẫu hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính phù hợp với quy định của pháp luật về bưu chính
6. - Mẫu biểu trưng, nhãn hiệu, ký hiệu đặc thù hoặc các yếu tố thuộc hệ thống nhận diện của doanh nghiệp được thể hiện trên bưu gửi (nếu có).
7. - Bảng giá cước, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ bưu chính.
Thời hạn giải quyết: 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Lệ phí:  5.000.000 đồng.
Độc giả: Nguyễn Ngọc Cường - Sơn La
Hiện nay Đơn vị Phòng GD&ĐT chúng tôi đang rất cần lập một Website để phục vụ trong lĩnh vực ngành giáo dục. Vậy Xin Bộ Thông Tin và truyền Thông có thể hướng dẫn quy trình và cho biết Công ty đáng tin cậy có thể hợp đồng làm cho chúng tôi Website riêng của đơn vị với chứng thực cấp giấy phép hoạt động của Bộ Thông tin và truyền thông. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Xin trả lời bạn như sau:
Thiết lập Website của bạn phải có giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
Các bước tiến hành thủ tục cấp giấy phép như sau:
1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ: Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp.
2. Thụ lý hồ sơ Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp địa phương và có văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp phép. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp nhận và cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp.
3. Trả kết quả Tổ chức, doanh nghiệp nhận phản hồi về việc cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp phép như sau
1. Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet;
2. Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp) Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư); Quyết định thành lập (đối với tổ chức không phải doanh nghiệp) có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử xin cấp phép và kèm theo văn bản chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có); Giấy phép hoạt động báo chí (đối với cơ quan báo chí).
3. Bằng tốt nghiệp đại học (bản sao có chứng thực) và sơ yếu lý lịch của người chịu trách nhiệm quản lý trang thông tin điện tử có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có ảnh và dấu giáp lai;
4. Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung sau:
+ + Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
+ + Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog…);
+ + Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
+ + Tên miền dự kiến sử dụng;
+ + Văn bản chấp thuận của các tổ chức cung cấp tin để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn tin.
+ + Trường hợp sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền này phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng tại thời điểm xin cấp phép. Trường hợp sử dụng tên miền quốc tế thì tên miền này đã được thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
Lệ phí: Không có.
Độc giả: Lê Xuân Lý - P308 nhà A9 ngõ 128C Đại La
Công ty chúng tôi có nhu cầu nhập khẩu thiết bị định vị (thiết bị GPS). Khi tôi liên lạc với CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG bộ phận ĐO LƯỜNG để được đo kiểm thì được trả lời rằng bên họ không thể đo kiểm thiết bị GPS. Vậy chúng tôi muốn nhập khẩu thiết bị GPS thì cần liên hệ với cơ quan nào và cần những thủ tục gì. Kính mong quý cơ quan trả lời sớm
Xin trả lời bạn như sau:
Bạn kiểm tra thiết bị của bạn có thuộc danh mục thiết bị theo thông tư số 14/2011/TT-BTTTT  (Nếu có) Bạn phải xin giấy phép nhập khẩu thuộc diện quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông
Các bước tiến hành cấp giấy phép nhập khẩu như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
Tổ chức, cá nhân chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại: Trụ sở chính của Cục và các Trung tâm trực thuộc Cục.
a. TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội
b. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
c. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
3. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ
Cục Viễn thông tiếp nhận hồ sơ, phân công kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng của tổ chức, cá nhân.
4.Trả kết quả
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Viễn thông cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện cho tổ chức, cá nhân;
- Trường hợp từ chối cấp giấy phép, Cục Viễn thông trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do từ chối cấp phép cho tổ chức, cá nhân.
Hồ sơ đề nghị bao gồm:
1. Cấp giấy phép nhập khẩu:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu;
- Bản sao:
+ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoặc Quyết định/giấy phép thành lập, hoặc giấy chứng nhận đầu tư/giấy phép đầu tư, hoặc chứng minh nhân dân/hộ chiếu,.. . (Bản sao có chứng thực (đối với trường hợp gửi qua đường bưu chính) hoặc bản sao kèm bản gốc để đối chiếu (đối với trường hợp nộp trực tiếp);
+ Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn;
+ Tài liệu kỹ thuật của thiết bị;
2. Hợp đồng thương mại hoặc tờ khai hải quan hoặc giấy tờ thể hiện số lượng liên quan đến lô hàng nhập khẩu.
Thời hạn giải quyết: 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đầy đủ hợp lệ
Độc giả: Đặng Trần Hưng - Phố Tân Thịnh-TT.Thanh Sơn- Thanh Sơn- Phú Thọ
Xin cháo quý cơ quan. Cho phép tôi được hỏi là: Tôi đang muốn mở dịch vụ dinh doanh Internet tại địa phương, nhưng tôi không biết thủ tục để được xin cấp phép bao gồm những giấy tờ gì? và cần có những điều kiện gì liên quan, để tôi hoạt động kinh doanh tốt nhất và đúng theo quy định của pháp luật. Xin trân thành cám ơn!
Xin trả lời bạn như sau:
Đề cấp phép hoạt động kinh doanh Internet gồm các bước sau:
Bước 1 Cá nhân, tổ chức nộp đơn tại Phòng Văn hoá và Thông tin; cán bộ tiếp nhận hướng dẫn kê khai các thủ tục viết và hẹn ngày trả kết quả.
Bước 2 Phòng Văn hoá và Thông tin kiểm tra, thẩm định, xem xét hồ sơ, ký xác nhận hồ sơ.
Bước 3 Cá nhân, tổ chức nhận kết quả tại Phòng Văn hoá và thông tin
Hồ sơ đăng ký gồm:
1. Đơn đề nghị cấp phép kinh doanh dịch vụ Internet
2. Cam kết thực hiện qui định ngành nghề kinh doanh
3. Cam kết An ninh- Trật tự
4. Bản cam kết cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet
5. Chứng chỉ tin học 6. Chứng minh thư Nhân dân (Photo công chứng) 7. Xác nhận An toàn Phòng cháy, chữa cháy
8. Hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông
9. Sổ hộ khẩu (Photo)
10. Sơ đồ phòng máy
11. Xác nhận nhân sự cá nhân của chủ ĐKKD.
Thời hạn giải quyết: 03-05 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ
Độc giả: Nguyễn Hoàng Kim Oanh - 49/2 Bình TạoA_
Xin vui lòng giải đáp: Tôi muốn được Bộ Truyền Thông và Thông tin cấp giấy phép hoạt động cho 1 website của 1 tổ chức hoạt động thiện nguyện thì cần những thủ tục gì? Tổ chức của Tôi do Hội Chữ Thập Đỏ Bình Đức - Châu Thành - Tiền Giang quyết định thành lập và đã hoạt động được 1 năm. Xin chân thành cảm ơn!
Xin trả lời bạn như sau:
Thiết lập Website của bạn phải có giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
Các bước tiến hành thủ tục cấp giấy phép như sau:
1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp.
2. Thụ lý hồ sơ Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp địa phương và có văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp phép. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp nhận và cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp.
3. Trả kết quả Tổ chức, doanh nghiệp nhận phản hồi về việc cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp phép như sau
1. Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet; 2. Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp) Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư); Quyết định thành lập (đối với tổ chức không phải doanh nghiệp) có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử xin cấp phép và kèm theo văn bản chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có); Giấy phép hoạt động báo chí (đối với cơ quan báo chí). 3. Bằng tốt nghiệp đại học (bản sao có chứng thực) và sơ yếu lý lịch của người chịu trách nhiệm quản lý trang thông tin điện tử có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có ảnh và dấu giáp lai; 4. Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung sau:
+ + Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
+ + Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog…);
+ + Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
+ + Tên miền dự kiến sử dụng;
+ + Văn bản chấp thuận của các tổ chức cung cấp tin để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn tin.
+ + Trường hợp sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền này phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng tại thời điểm xin cấp phép. Trường hợp sử dụng tên miền quốc tế thì tên miền này đã được thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
Lệ phí: Không có.
Độc giả: nguyễn mai hiên - Hoà Lạc, Thạch Thất, Hà Nội
Kính gửi Bộ Thông tin và truyền thông, tôi thuộc công ty TNHH Tập đoàn OETEK Việt Nam. Công ty tôi nhập các nguyên liệu về để sản xuất thành dây cáp quang. Ngoài ra chúng tôi nhập nguyên vật liệu về để sản xuất thành sản phẩm DÂY NHẢY QUANG, DÂY NỐI QUANG. vậy, chúng tôi có cần phải đăng kí hợp chuẩn không? Và quy trình như thế nào. Mong Bộ TT&TT trả lời giúp. Cảm ơn.
Xin trả lời bạn như sau:
Theo thông tư Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT bạn phải công bố hợp chuẩn đối với sản phẩm của bạn sản xuất
Các bước tiến hành thủ tục công bố như sau:
1. Chuẩn bị hồ sơ
Tổ chức, cá nhân chuẩn bị hồ sơ đăng ký công bố hợp quy đầy đủ và khai báo chính xác các thông tin trong hồ sơ đăng ký.
2. Nộp hồ sơ
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy tại các Tổ chức chứng nhận thuộc Cục Viễn thông ở các địa chỉ sau:
a. TRUNG TÂM CHỨNG NHẬN
Địa chỉ: Toà nhà Cục Viễn thông
Yên Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội.
b. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
c. TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH VÀ CHỨNG NHẬN 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
3. Xử lý, đánh giá hồ sơ
Cục Viễn thông tiếp nhận, đánh giá hồ sơ đăng ký công bố của tổ chức, cá nhân.
4. Trả kết quả
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kế từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Viễn thông gửi Thông báo tiếp nhận Bản công bố hợp quy cho tổ chức, cá nhân đăng ký công bố hợp quy.
- Trường hợp hồ sơ không đáp ứng yêu cầu, Cục Viễn thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đăng ký công bố hợp quy về những nội dung chưa phù hợp để hoàn thiện và thực hiện việc đăng ký lại.
Hồ sơ công bố bao gồm:
- Ðơn đăng ký công bố hợp quy (theo mẫu tại Phụ lục III, Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT);
 - Bản sao giấy tờ thể hiện tư cách pháp nhân của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Bản công bố hợp quy (theo mẫu tại Phụ lục IV, Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT);
- Báo cáo kết quả tự đánh giá sự phù hợp kèm theo Bản mô tả chung về sản phẩm (đặc điểm, tính năng, công dụng), Kết quả đo kiểm sản phẩm của đơn vị đo kiểm quy định tại khoản 2 và 3 Điều 5 của Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT và được cấp không quá hai (02) năm tính đến ngày nộp Hồ sơ đăng ký;
- Mẫu dấu hợp quy sử dụng cho sản phẩm đăng ký công bố hợp quy.
Thời hạn giải quyết:  07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
Độc giả: Nguyễn Minh Giang - 74/9 KP4, P. Tân Thuận Tây, Q7, TPHCM
Tôi có 1 website chuyên cho các DN đặt banner quảng cáo có thu phí và hình thức rút thăm trúng quà cho thành viên tham gia. Tôi đã có xin giấy phép kinh doanh cho các ngành nghề trên rồi, nhưng tôi thắc mắc có cần phải xin thêm giấy phép hoạt động website nào nữa không? Xin cám ơn, Giang
Xin trả lời bạn như sau:
Thiết lập Website của bạn phải có giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
Các bước tiến hành thủ tục cấp giấy phép như sau:
1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp.
2. Thụ lý hồ sơ Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp địa phương và có văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp phép. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp nhận và cấp phép trang thông tin điện tử tổng hợp.
3. Trả kết quả Tổ chức, doanh nghiệp nhận phản hồi về việc cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Hồ sơ xin cấp phép như sau
1. Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet;
2. Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp) Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư); Quyết định thành lập (đối với tổ chức không phải doanh nghiệp) có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử xin cấp phép và kèm theo văn bản chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có); Giấy phép hoạt động báo chí (đối với cơ quan báo chí).
3. Bằng tốt nghiệp đại học (bản sao có chứng thực) và sơ yếu lý lịch của người chịu trách nhiệm quản lý trang thông tin điện tử có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có ảnh và dấu giáp lai;
4. Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung sau:
+ + Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
+ + Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog…);
+ + Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
+ + Tên miền dự kiến sử dụng;
+ + Văn bản chấp thuận của các tổ chức cung cấp tin để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn tin.
+ + Trường hợp sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì tên miền này phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng tại thời điểm xin cấp phép. Trường hợp sử dụng tên miền quốc tế thì tên miền này đã được thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông theo đúng quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet.
Thời hạn giải quyết : 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
Lệ phí: Không có.
Độc giả: Đặng Quốc Thái - 73 Điện Biên Phủ, Hải phòng
Chúng tôi là doanh nghiệp chuyên sản xuất, lắp ráp, kinh doanh các sản phẩm điện tử. Do yêu cầu sản xuất, chúng tôi có nhập thêm 01 thiết bị phát tín hiệu chuẩn của hãng Rohde&Schwarz ký hiệu SMB100A-B101 phục vu căn chỉnh băng sóng AM/FM của Radio. Vậy thiết bị này có buộc phải chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy theo quy định tại Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/03/2009 của Bộ Thông tin Truyền thông hay không. Mong sớm nhận được giải đáp của quý cơ quan. Chân thành cám ơn

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
1. Ông/bà có thể tự xác định sản phẩm có hay không thuộc diện quản lý chuyên ngành tại các văn bản sau:
- “Danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy” ban hành kèm theo Thông tư số 07/2009/TT-BTTT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
- “Danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải công bố hợp quy” ban hành kèm theo Thông tư số 08/2009/TT-BTTT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
2. Đối với thiết bị cụ thể trong câu hỏi của Ông Đặng Quốc Thái làm việc tại Công ty CP Điện tử Hải Phòng: Trung tâm Chứng nhận - Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông đã có các văn bản hướng dẫn số 42/TTCN ngày 19/03/2010 và số 48/TTCN ngày 26/03/2010. Theo đó đây không phải là thiết bị phát sóng chuẩn có bức xạ sóng vô tuyến điện, mà là thiết bị tạo tín hiệu chuẩn, do đó không phải chứng nhận/công bố hợp quy.

Độc giả: Nguyễn Hữu Nhơn - 259 Lê Hồng Phong, P Thống nhất, TP BMT
Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, Tôi khá bức xúc về chuyện EVN Telecom đơn phương cắt kết nối di động, và tước mất số tiền trong tài khoản và đấu nối số di động của tôi cho một cá nhân khác thụ hưởng mà không mà tôi không nhận được bất cứ thông báo nào từ EVN Telecom. Sự việc như sau : 1. Sáng ngày 3 tháng 9 năm 2009 thuê bao 0969 666 888 của tôi bị cắt đột ngột (ngừng hoạt động) mà tôi không nhận được bất cứ thông báo nào từ EVN Telecom. 2. Ngay sau đó tôi đã liên lạc với EVN Telecom, cụ thể sau hơn sáu (06) tháng EVN Telecom giải thích cho tôi như sau : “Do Tôi không cung cấp được hóa đơn chứng từ chứng minh lúc mua sim EVN Telecom và đăng ký tại các cửa hàng kinh doanh sim số EVN Telecom, vì vậy đây là sim số cấp trái phép và không hợp pháp “ Vậy tôi xin được Bộ Thông tin và Truyền thông giải đáp những thắc mắc sau của tôi : - EVN Telecom đã có thông báo, quy định nào về việc mua Sim phải có hoá đơn chứng từ? Và thông báo, quy định nào nói rằng mua Sim không có hoá đơn chứng từ là sim trái phép, bất hợp pháp? - Thực tế thị trường Sim hàng ngàn cửa hàng, tôi chưa từng thấy nơi nào quy định phải lấy hoá đơn, chứng từ? - EVN Telecom đã có thông báo nào quy định mua ở đâu, thủ tục nào? mới là sim hợp pháp? - Nếu trái phép tại sao tôi sử dụng một thời gian, tôi vẫn phải bỏ chi phí ra trả cước gọi? tại sao các cuộc gọi đến và đi, tin nhắn vẫn hoạt động? - Tôi mới nạp thêm vào tài khoản 05 thẻ mệnh giá 100.000 đồng, tổng là 500.000 đồng được tổng đài EVN Telecom chấp nhận và cung cấp thời hạn các cuộc nghe – nói … vậy EVN Telecom thu tiền 500.000 đồng của Tôi là hợp pháp hay không hợp pháp? 3. Điều ngạc nhiên lớn là số sim của tôi đang bị khiếu nại, đang trong giai đoạn xử lý, giải quyết thì 01 tuần sau EVN Telecom đấu giá ra ngoài cho cá nhân khác hoà mạng, đứng tên và rao bán trên mạng Internet với giá cao. Vậy - Tổ chức nào? Cá nhân nào thuộc EVN Telecom có quyền tước đoạt số sim thuộc quyền sử hữu hợp pháp của tôi? Hành động này của quý vị có hợp pháp? hợp tình và hợp lẽ? - Hành động trên của EVN Telecom có đúng pháp luật, đúng quy định? Hay là hành động lợi dụng quyền hạn để tước đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng? - EVN Telecom cũng chưa có văn bản và kết quả giải quyết cụ thể với tôi đã tự ý tiến hành bán sim số - bán tài sản hợp pháp của tôi. - Hành động trên của EVN Telecom đã vi phạm nghiêm trọng Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm - Nếu tôi sử dụng trái phép, bất hợp pháp số sim trên, vậy cớ gì Nhân viên Tổng đài EVN Telecom thoả thuận với tôi qua điện thoại và đề nghị bồi thường lại cho tôi số khác? - Nếu hành động ngang ngược của EVN Telecom đúng thì tại sao lại đề nghị bồi thường? - Vậy chủ trương Công bằng – Dân chủ - Văn minh của xã hội mà Đảng và Nhà nước chủ trương ở đâu? - EVN Telecom hành xử có tham khảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng không? Thiết nghĩ đây là hành vi không tôn trọng khách hàng của EVN Telecom. Với tư cách khách hàng, người bỏ tiền ra để sử dụng dịch vụ của quý vị, tôi đề nghị quý vị hồi đáp cho tôi bằng văn bản chính thức về khiếu nại của tôi? Tôi không chấp nhận tiếp tục kéo dài, quanh co, lối làm việc qua điện thoại, thương lượng, đề nghị bồi thường một cách không minh bạch như vừa qua Kính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét và can thiệp, hướng dẫn cho tôi để đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định của pháp luật về hoạt động thương mại, khi bán hàng, người bán có trách nhiệm xuất hóa đơn cho người mua, đồng thời người mua có quyền yêu cầu người bán xuất hóa đơn để đảm bảo quyền lợi liên quan. Tuy nhiên, khi mua SIM, bạn không yêu cầu cấp hóa đơn cho bạn, đó là thiếu sót của bạn.
Việc EVNTelecom đột ngột cắt thuê bao của bạn và chuyển cho người khác là vấn đề tranh chấp giữa bạn (người sử dụng dịch vụ) và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông là EVNTelecom. Được giải quyết theo quy định tại Quyết định số 05/2007/QĐ-BBCVT ngày 05/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông ban hành Quy định về giải quyết khiếu nại và hướng dẫn giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ với bên cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát, viễn thông và Internet. Đề nghị bạn có văn bản khiếu nại đến EVNTelecom và Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đăk Lăk để được giải quyết hoặc bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án tại Đắk Lắk đối với EVNTelecom. 
Lưu ý: Bạn nên thu thập tất cả các thông tin liên quan đến số điện thoại của bạn, bao gồm: Thời điểm, địa điểm bạn sử dụng số điện thoại này; các số điện thoại bạn thường xuyên đi và được gọi đến; thời gian, địa điểm bạn đăng ký thông tin thuê bao; các thời điểm bạn nạp thẻ trả trước; thời gian bạn bị thay đổi thuê bao và thông tin về người đang sử dụng số thuê bao 0969 666 888.
Chúc bạn sức khỏe, hạnh phúc.
 

Độc giả: Nguyệt Thực -
Tôi muốn hỏi việc thiết lập mạng vô tuyến dùng riêng cần điều kiện gì và thủ tục như thế nào? Một tỉnh muốn thiết lập mạng vô tuyến dùng riêng phục vụ cho việc phòng chống bão lụt có được phép không? Rất mong hồi âm của quý cơ quan./.

Vụ Viễn thông xin trả lời:
- Việc cấp phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng được quy định tại Nghị định số 160/2004/NĐ-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về viễn thông (Điều 44, 45 của Chương IV).
- Thông tin phục vụ công tác phòng chống lụt bão chủ yếu cho 2 nhiệm vụ chính là :
+ Thông tin dự báo thiên tai, khu vực bị ảnh hưởng;
+ Thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống lụt bão và khắc phục hậu qủa thiên tai.
- Về thông tin dự báo thiên tai, quyết định số 245/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ đã quy định các đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng bản tin dự báo thiên tai và truyền phát bản tin.
Về thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo điều hành của các cơ quan Đảng, chính quyền địa phương các cấp hiện nay và thông tin liên lạc trên biển, Bộ Thông tin và Truyền thông hiện đang giao cho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là đơn vị chủ đạo tổ chức triển khai thực hiện và đảm bảo an toàn thông tin liên lạc được thông suốt trong mọi tình huống và Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam đảm bảo thông tin liên lạc trên biển.
Việc một tỉnh muốn thiết lập mạng vô tuyến dùng riêng phục vụ cho công tác phòng chống bão lụt về cơ bản không trái với các quy định về quản lý viễn thông nếu phù hợp với quy hoạch tần số vô tuyến điện và phải được cấp phép sử dụng máy phát và tần số vô tuyến điện nhằm tránh can nhiễu, ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống khác. Tuy nhiên điều này cần được xem xét nhằm tránh gây lãng phí về đầu tư và không tận dụng, sử dụng được hạ tầng viễn thông công cộng hiện có độ bao phủ đến tận xã và khu vực có người dân sinh sống. Bên cạnh đó, VNPT đang được Bộ Thông tin và Truyền thông giao triển khai dự án mạng thông tin chuyên dùng phục vụ chỉ đạo điều hành công tác phòng chống thiên tai trên phạm vi toàn quốc. Giai đoạn đầu đã triển khai được 28 tỉnh có biển và sẽ triển khai tiếp trong năm 2010 đối với các tỉnh còn lại đáp ứng cơ bản yêu cầu về đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai thống nhất từ Trung ương đến địa phương và vùng trọng điểm thiên tai.

Độc giả: TRAN VAN THU - VU THU-THAI BINH
Tôi có 1 số điện thoại của mạng Viettel là 0187224222. Số điện thoại này là của tôi mua sim này và tôi cho một người bạn của tôi mượn dùng. Tôi đã ra điểm giao dịch của viettel ở địa chỉ (thị trấn Vũ Thư tỉnhh Thái Bình để đăng ký tên chủ thuê bao. Sau thời gian đó, số điện thoại của tôi vẫn đạng hoạt động bình thường thì vào ngày 31/12/09, người bạn của tôi đã mang cái sim tôi cho mượn mang ra cửa hàng ở thị trấn Vũ Thư - Thái Bình để thay đổi tên của nó. Trong khi đấy đây là sim của tôi nó đã được đăng ký tên chủ của tôi. Tôi không ra cửa hàng của viettel để làm thủ tục chuyển quyền vậy mà tại sao nhân viên ở điểm giao dịch lại tự ý làm trái với nội quy của viettel. Bây giờ số điện thoại đó của tôi không còn đúng tên chủ của tôi nữa. Trước vấn đề này tôi đã gọi điện lên tổng đài bằng số điện thoại 01688952801 khiếu nại rất nhiều lần. Mấy ngày sau có một nhân viên ở phòng giải quyết khiếu nại mã số 2751 gọi về cho tôi và nói sẽ đứng ra giải quyết cho tôi về vấn đề này, nhưng khi nhân viên 2751 đưa ra hướng giải quyết cho tôi nói là sẽ không can thiệp vào vấn đề của tôi nữa, yêu cầu tôi ra điểm giao dịch ở Vũ Thư thái bình. Tôi đã hết sức hợp tác với Viettel, tôi đã ra điểm giao dịch mấy lần nhưng nhân viên ở cửa hàng nói vấn đề này không giải quyết được cho tôi. Trong khi đó chính nhân viên ở điểm giao dịch đó đã thay đổi tên chủ thuê bao của tôi. Khi tôi hỏi tại sao lại thay đổi thông tin của tôi thì nhân viên ở điểm giao dịch trả lời 7339: xin lỗi ạ tại vì hôm đó lỗi phần mềm máy tính nên điểm giao dịch không kiểm tra được thông tin của số điện thoại đấy nên đã thay đổi thông tin. Tôi không đồng ý với câu nói đó và những cách giải quyết của nhân viên phòng giải quyết khiếu nại mã số 2751. Ngày 12/2/2009 tôi có ra điểm giao dịch ở thị trấn Vũ Thư Thái Bình viết đơn và đề nghị gửi lên phòng chăm sóc khách hagnf. Trước đó mấy ngày tôi cũng đã viết 1 lá đơn ở đó rồi nhưng không hiểu vì sao đến bây giờ tôi gọi lên số điện thoại của phòng giải quyết khiếu nại để hỏi xem đơn đã được giải quyết chưa thì nhân viên 2751 trả lời vẫn chưa nhận được đơn. Tôi không biết phải làm gì để giải quyết được vấn đề này, tự nhiên tôi lại bị mất quyền sở hữu của số điện thoại mà mình mua sao? Vậy tôi kính mong Bộ Thông tin và truyền thông xem xét và hướng dẫn tôi cách giải quyết để tôi có thể được đứng tên chủ thuê bao của tôi mà đã bị thay đổi lúc trước. Tôi xin chân thành cảm ơn rất nhiều.

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 22/2009/TT-BTTTT ngày 24/6/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông về quản lý thuê bao di động trả trước thì việc chủ sở hữu của các số di động hiện đang sử dụng đến các đại lý được ủy quyền của Doanh nghiệp thông tin di động để khai báo lại thông tin cá nhân là cần thiết, lý do là hiện nay việc trùng thông tin cá nhân và việc đăng ký quá 3 SIM đối với một người là tương đối lớn và các thuê bao thực hiện việc khai báo lại thông tin cá nhân đối với số điện thoại liên lạc thường xuyên của mình nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đối với số thuê bao đó. Tuy nhiên, đối với trường hợp của Bạn xảy ra các vướng mắc sau:
1/ Về phía Bạn: Bạn chỉ chứng minh được nguồn gốc trước đây của số điện thoại đó của Bạn qua cơ sở dữ liệu của Doanh nghiệp di động. Và Bạn không chứng minh được về tình trạng hiện tại đối với SIM đó của Bạn.
2/ Về phía Bạn của Bạn: Tuy nguồn gốc SIM không mang tên Bạn của bạn nhưng Bạn của bạn đã chứng minh tình trạng SIM hiện tại, khai báo đầy đủ các thông số và cung cấp các giấy tờ cẩn thiết để xác minh số điện thoại của mình đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về các thông tin khai báo đó để được thay đổi thông tin một cách hợp pháp.
Với những vướng mắc trên, Bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi Chi nhánh Viettel tại địa phương Bạn, đồng thời gửi Sở Thông tin và Truyền thông tại địa phương bạn đang cư trú để được giải quyết.
Lưu ý: Bạn nên thu thập tất cả các thông tin liên quan đến số điện thoại của bạn, bao gồm: Thời điểm, địa điểm bạn sử dụng số điện thoại này; thời gian, địa điểm bạn đăng ký thông tin thuê bao, họ tên, số chứng minh nhân dân, ngày sinh của bạn; các thời điểm bạn nạp thẻ trả trước; thời gian bạn bị thay đổi thuê bao, thông tin về người đang sử dụng số thuê bao 01688952801 và chứng minh mối quan hệ giữa bạn và người đang sử dụng số điện thoại nói trên.
Chúc bạn thành công.
 

Độc giả: Lê Văn Hải - xã An Nhứt, Huyện Long Điền, BRVT
Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền Thông Nghị định 55/2001/NĐ-CP về Quản lý đại lý Intrenet được thay thế Nghị định 97/2008/NĐ-CP, qua đó Thông tư LT 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT và Thông tư 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA hướng dẩn thực hiện Nghị định 55/2001/NĐ-CP do chưa có văn bản nào bãi bỏ do đó vẫn còn hiệu lực nếu không trái/mâu thuẩn với Nghị định 97/2008. Xin được hỏi : - Bộ có thể nêu cụ thể hơn những nội dung của mục nào, khoản nào của 02 thông tư liên tịch nói trên trái/mâu thuẫn với Nghị định 97 cần bãi bỏ không áp dụng. - Đại lý Internet có kinh doanh dịch vụ online games mở ra trước ngày Thông tư 02 và 60 có hiệu lực; nhưng sau đó có trường học được xây dựng và hoạt động cách đại lý này 100m, như vậy theo qui định của thông tư 60 đại lý này có vi phạm không (Đại lý có trước, Trường học có sau).

Vụ Viễn thông xin trả lời:
1. Trong khi chưa có văn bản nào thay thế cũng như chưa có qui định nào hủy bỏ Thông tư liên tịch số 02 và số 60 mà bạn đã hỏi, theo qui định của pháp luật hiện hành thì những nội dung của 2 Thông tư liên tịch này nếu không trái/mâu thuẫn với Nghị định 97 vẫn còn hiệu lực. Ví dụ một số nội dung tại 02 Thông tư liên tịch trên cần phải thực hiện theo Nghị định 97 như: giờ mở, đóng cửa đại lý Internet; chế độ báo cáo của các doanh nghiệp Internet, ...
2. Theo quy định tại Thông tư liên tịch 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/06/2006 về quản lý trò chơi trực tuyến thì các đại lý Internet “Chỉ được cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến ở các địa điểm cách cổng ra vào của các trường học (từ mẫu giáo đến phổ thông trung học) tối thiểu 200m, không phân biệt trường đó thuộc địa phương nào”.  Do đó, đối với các đại lý Internet có kinh doanh dịch vụ trò chơi trực tuyến mở ra trước ngày Thông tư 02 và 60 có hiệu lực, nhưng sau đó có trường học được xây dựng và cách đại lý 100m thì các đại lý Internet không được kinh doanh trò chơi trực tuyến tại địa điểm này nữa. 

 

Độc giả: Bùi Mỹ Quỳnh - Phòng 5A, Tầng 2, 17 Ngô Quyền
Chúng tôi là một công ty của Nhật Bản kinh doanh các thiết bị hàng hải và viễn thông, do nhu cầu kinh doanh chúng tôi có một câu hỏi như sau kính mong quý cục giải đáp: Thiết bị của chúng tôi là thiết bị thông tin liên lạc lắp trong xe ô tô, chúng tôi có nhu cầu sử dụng dải tần số 380-400Mhz. Khi sử dụng dải tần số này chúng tôi có cần phải xin giấy phép không? Xin quý cục giải đáp sớm, Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Trợ lý văn phòng Bùi Mỹ Quỳnh

Cục Tần số vô tuyến điện xin trả lời:
Theo các quy định hiện hành, loại thiết bị vô tuyến điện của Quý công ty thuộc diện cần có giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện.
Quý Công ty có thể tham khảo hướng dẫn về thủ tục cấp giấy phép tại địa chỉ:
http://www.rfd.gov.vn/Noi_dung/Cap_phep/Cap_giay_phep_su_dung_tan_so_moi
Để biết thêm các thông tin chi tiết, đề nghị liên hệ Cục Tần số vô tuyến điện hoặc các Trung tâm tần số khu vực.
http://www.rfd.gov.vn/Noi_dung/Cac_trung_tam_tan_so_VTd/Cac_Trung_tam_Tan_so_vo_tuyen_dien_khu_vuc

 

Độc giả: Đỗ Tuấn Dũng - Quảng Ngãi
Có thể cho biết danh sách thiết bị viễn thông và CNTT đã có MRA được nhập khẩu về thị trường Việt Nam để tiện trong công tác quản lý

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
MRA là từ viết tắt của Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp (Pha 1: thừa nhận kết quả đo kiểm; pha 2: thừa nhận kết quả chứng nhận sự phù hợp). Việt Nam đã công bố sẵn sàng tham gia Pha 1 - MRA trong khối APEC và ASEAN, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay mới đang tiến hành các bước để thừa nhận phòng đo của Hoa Kỳ và Hàn Quốc, chưa chính thức hoàn thành thủ tục thừa nhận phòng đo nào.
Sau khi hoàn thành thủ tục thừa nhận, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ công bố danh sách các phòng đo kiểm được thừa nhận trong khuôn khổ MRA. Trong phạm vi được thừa nhận, kết quả đo kiểm của các phòng đo được thừa nhận này được chấp thuận trong các thủ tục quản lý chất lượng thiết bị chuyên ngành tại Việt Nam (không có danh mục thiết bị được thừa nhận trong khuôn khổ MRA).
Chi tiết về lĩnh vực thừa nhận, và các vấn đề liên quan đến MRA, mời ban tham khảo tại website của Bộ Thông tin và Truyền thông - Mục Tiêu chuẩn chất lượng, MRA và hỏi đáp về TBT.

Độc giả: Đào Đức Thắng - T/p Thanh Hoá - tỉnh Thanh Hoá
Thực hiện quy định của Bộ TT và TT, chị gái tôi đã đến đại lý Viettel để khai báo thông tin cá nhân cho thuê bao di động nhưng nhưng nhân viên Viettel báo số CMT của chị ấy đã bị trùng với 03 số thuê bao khác. Từ trứơc đến nay, chị tôi chỉ dùng có 01 số di động của Viettel. Để đảm bảo khai báo thông tin đúng thời hạn, tôi phải dùng CMT của mình để đăng ký thông tin thuê bao cho chị ấy. Sau đó chị tôi đề nghị nhân viên Viettel xoá thông tin mà 03 số thuê báo kia đã sử dụng để khai báo. Nhân viên Viettel yêu cầu chị tôi phải xuất trình CMT bản gốc và sổ hộ khẩu gia đình. Khi chị tôi xuất trình CMT bản gốc và sổ hộ khẩu gia đình thì nhân viên Viettel liệt kê đủ mọi lý do để không thực hiện xoá thông tin thuê bao như: bắt chị tôi phải liệt kê 05 số điện thoại gọi đi, đến các số thuê bao này. Nhưng các số thuê bao này chị tôi không biết của ai, vì lý do gì có được thông tin cá nhân của chi ấy. Chị tôi rất bức xúc về chuyện này. Chị tôi trả lời rằng cứ cho rằng 03 số thuê bao trên là của chị ấy thì bây giờ chị ấy huỷ số, không sử dụng nữa. Tuy nhiên nhân viên Viettel vẫn viện đủ mọi lý do để không thực hiện xoá thông tin thuê bao. Vậy Viettel làm như vậy có đúng không? Hay vì lý do để có đủ thông tin thuê bao mà không thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, cho dù đó là thông tin không đúng?

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 22/2009/TT-BTTTT ngày 24/6/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông về quản lý thuê bao di động trả trước thì việc Chị của bạn xuất trình đầy đủ CMT và Hộ khẩu để chứng minh tính hợp pháp và nhân thân cho việc đăng ký lại thông tin cá nhân đối với số điện thoại thường dùng của mình, cũng có nghĩa là ”Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của thông tin thuê bao mà mình đăng ký” (khoản 3, điều 13 Thông tư 22/2009/TT-BTTTT ngày 24 tháng 6 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về quản lý thuê bao di động trả trước) và yêu cầu Doanh nghiệp thông tin di động thay đổi thông tin của các thuê bao khác sử dụng thông tin cá nhân của Chị bạn là đúng (quy định tại khoản 5, Điều 13 Thông tư 22/2009/TT-BTTTT ngày 24 tháng 6 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về quản lý thuê bao di động trả trước).
Vì vậy, Chị của bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi Chi nhánh Viettel tại địa phương nơi Chị bạn cư trú, đồng thời gửi đến Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị giải quyết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Chúc bạn sức khoẻ, may mắn.
 

Độc giả: Huỳnh Nguyễn Anh Kiệt - Nha Trang, Khánh Hòa
Cơ quan tôi đang triển khai dự án ứng dụng CNTT và đúng vào thời điểm được điều chỉnh bởi Nghị định số 102/2009/NĐ-CP. Hiện nay, dự án đã thực hiện xong bước chuẩn bị đầu tư (đã được phê duyệt đầu tư), và đang triển khai bước lập thiết kế thi công và tổng dự toán. Xin hỏi, việc xác định các chi phí tư vấn trong tổng mức đầu tư theo điều 36 được áp dụng theo văn bản nào? Nếu áp dụng theo Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng thì dự án ứng dụng CNTT được xếp vào loại nhóm công trình nào?

Cục ứng dụng CNTT&TT trả lời câu hỏi của bạn như sau:

1. Tại khoản 1, Điều 75 có quy định “Dự án ứng dụng công nghệ thông tin được phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa triển khai thực hiện hoặc đang thực hiện thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư tại thời điểm phê duyệt dự án”. Như vậy nếu dự án của cơ quan bạn duyệt trước ngày NĐ 102/2009/NĐ-CP có hiệu lực (01/01/2010) thì sẽ triển khai thực hiện theo các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư trước đây (Nghị định 52/1999/NĐ-CP, 12/2000/NĐ-CP, 07/2003/NĐ-CP). Còn nếu dự án của cơ quan bạn được duyệt kể từ ngày 01/01/2010 thì sẽ vận hành theo Nghị định 102/2009/NĐ-CP.
2. Nếu dự án vận hành theo Nghị định 102/2009/NĐ-CP: Tại điểm c khoản 2 Điều 36 quy định "Chi phí tư vấn đầu tư được xác định trên cơ sở tham khảo định mức tỷ lệ, hoặc theo phương pháp so sánh hoặc bằng cách lập dự toán". Hiện nay, Bộ TTTT đang xây dựng văn bản hướng dẫn xác định các chi phí thuộc Tổng mức đầu tư và Tổng dự toán. Trong khi chờ văn bản trên được ban hành, có thể áp dụng một trong ba phương phương pháp trên để xác định chi phí tư vấn đầu tư.
3. Việc áp dụng theo Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng: Do dự án ứng dụng CNTT không phải dự án đầu tư xây dựng công trình nên không thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng, Nghị định 12/2009/NĐ-CP cũng như  Quyết định 957 nói trên. Trong quá trình triển khai, chủ đầu tư có thể nghiên cứu, vận dụng một số định mức trong Quyết định 957 nói trên nếu các chi  phí này phù hợp.

Độc giả: Trang Huong - Bình Dương
Công ty tôi có gửi 01 thùng hàng qua 1 công ty chuyển phát nhanh tại TP Hồ Chí Minh chuyển ra Hà Nội, trị giá của thùng hàng là 20 triệu đồng nhưng công ty đó làm thất lạc mất. Khi gửi công ty chúng tôi chưa ký hợp đồng vận chuyển. Vậy việc đền bù thiệt hại xử lý như thế nào?

Vụ Bưu chính xin trả lời:
- Điểm a) khoản 2 Điều 26 Nghị định 128/2007/NĐ-CP ngày 02/8/2007 quy định “…2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:
a) Loại dịch vụ không có chứng từ xác nhận việc gửi;
…..”
Như vậy, nếu công ty bạn chưa ký hợp đồng vận chuyển, tức là không có chứng từ xác nhận việc gửi, thì việc bồi thường thiệt hại sẽ không có căn cứ để xác định.
- Để bảo đảm quyền và lợi ích của Công ty khi sử dụng dịch vụ bưu chính, chuyển phát,  bạn có thể nghiên cứu các quy định của pháp luật về hình thức giao kết về cung ứng và sử dụng dịch vụ; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ; khiếu nại, bồi thường thiệt hại và các vấn đề liên quan khác trong Nghị định số 128/2007/NĐ-CP về dịch vụ chuyển phát (được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin & Truyền thông theo địa chỉ sau: http://mic.gov.vn/VBPL/vn/index.mic).

Độc giả: Nguyễn Thị Lệ Huyền - 80/71a Trần Quang Diệu, P14, Q3
Kính gửi Quý cơ quan, Tôi đang nghiên cứu về thị trường chuyển phát nhanh trong nước. Mặc dù đã tìm rất nhiều nguồn tư liệu nhưng vẫn không tìm được thị phần của các doanh nghiệp chuyển phát trên thị trường. Xin hỏi: Có cơ quan, đơn vị nào thu thập và quản lý các số liệu này không? Nếu có thì số liệu này có được công bố hay không? Xin cảm ơn!

Vụ Bưu chính xin trả lời:
- Bưu chính, chuyển phát là một trong các lĩnh vực hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông đang quản lý. Do vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng hệ thống báo cáo thống kê chuyên ngành để thu thập, quản lý và khai thác các số liệu thuộc lĩnh vực này để phục vụ cho công tác nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển.
- Năm 2009, Bộ Thông tin & Truyền thông đã phối hợp với Ban chỉ đạo quốc về CNTT  phát hành cuốn “Sách trắng về CNTT-TT Việt Nam năm 2009”, trong đó có một số số liệu thống kê ban đầu về lĩnh vực bưu chính, chuyển phát như mạng lưới bưu chính, doanh thu, thị phần bưu chính, một số doanh nghiệp bưu chính hàng đầu và một số nội dung liên quan khác.
Để tìm đọc cuốn sách này, bạn có thể truy cập vào cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin & Truyền thông theo địa chỉ sau: http://mic.gov.vn/uploads/20090826/CNTTVietnam2009V.pdf
- Ngoài ra, để biết thêm các số liệu thống kê khác về lĩnh vực bưu chính, chuyển phát, bạn cũng có thể truy cập cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin & Truyền thông http://mic.gov.vn/vn/news/solieuthongke_buuchinh/5/index.mic hoặc cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê  http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=434&idmid=3 để thu thập những thông tin cần thiết khác cho bạn.

Độc giả: Lê Thuý Hiền - Kim bôi- Hoà bình
Theo quyết định số 68/2008/QĐ-TTg ngày 22/5/2008 của Thủ tướng chính phủ về cung ứng dịch vụ công ích và Thông tư số 17/2009/TT-BTTTT ngày 27/5/2009 quy định chi tiết thi hành QĐ65/2008/QĐ-TTg quy định báo do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xuất bản thuộc dịch vụ công ích. Xin quý Bộ cho biết: 1. Báo ảnh do Đảng bộ tỉnh xuất bản có thuộc diện báo chí công ích không? 2. Các báo thuộc dịch vụ công ích được nhà nước đảm bảo phát hành qua mạng bưu chính công cộng theo giá cước do Nhà nước quy định( Điều 2-TT17) giá cước đó quy định cụ thể thế nào? 3. Đối với các báo không có giá in trên bìa, khi phát hành qua mạng bưu chính công cộng việc tính cước phí phát hành dựa trên căn cứ nào?

Vụ Bưu chính xin trả lời:
1. Báo ảnh do Đảng bộ tỉnh/tp trực thuộc TW xuất bản có thuộc dịch vụ bưu chính công ích ?
Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 65/2008/QĐ-TTg ngày 22/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về cung ứng dịch vụ bưu chính công ích quy định:
“Dịch vụ phát hành các loại báo: báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân, báo do Đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xuất bản và các loại báo khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định là dịch vụ công ích được Nhà nước đảm bảo phát hành qua mạng bưu chính công cộng theo quy định tại Quyết định này”.
Như vậy, những xuất bản phẩm khác do các Đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xuất bản phát hành (trong đó có báo ảnh) không thuộc dịch vụ bưu chính công ích.
2. Giá cước phát hành các loại báo chí công ích:
Theo Quyết định số 619/QĐ ngày 20/8/1963 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh, giá cước phát hành báo chí được áp dụng tính theo tỉ lệ 22% của giá bìa (giá bán báo).
3. Giá cước phát hành các loại báo chí không có giá in trên bìa.
Đối với các loại báo chí không có giá in trên bìa, khi phát hành qua mạng bưu chính công cộng hiện nay đang được áp dụng theo mức giá cước của ấn phẩm (giá cước được tính trên cơ sở cự ly và trọng lượng).

Độc giả: Nguyễn Xuân Duyên - Hà Nội
Xin kính chào các vị lãnh đạo Bộ TT&TT, Xin kính chúc các vị lãnh đạo dồi dào sức khỏe. Là một người làm CNTT, hiện nay tôi đang rất quan tâm đến một số vấn đề sau đây kính mong các vị lãnh đạo dành thời gian trả lời giúp: 1. Về việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở: Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở. Đặc biệt là việc chuyển toàn bộ các hệ thống máy tính của các cơ quan nhà nước sang sử dụng các phần mềm nguồn mở vào năm 2010 : Hệ điều hành, chương trình ứng dụng...(theo các quyết định 235/2004/QĐ –TTG của Thủ Tướng CP, Chỉ thị 07 /2008/CT-BTTTT và Quyết định 08 /2007/QĐ-BTTTT của Bộ TTTT...) - Kế hoạch này tiến triển ra sao? - Liệu có thể hoàn thành đúng tiến độ? - Tình hình chung về việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở trong các cơ quan, đơn vị ngoài nhà nước? - Liệu các doanh nghiệp sẽ thực hiện theo các cơ quan nhà nước hay sẽ làm như thế nào? - Đã có báo cáo tổng kết về việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam chưa? Nếu có, Bộ có thể cho gửi vào mail cho tôi một bản được không? 2. Các phần mềm phổ biến: - Các cơ quan nhà nước thường sử dụng những phần mềm nào (Cho quản lý công việc chuyên môn, trao đổi thông tin, hội thảo…Các loại phần mềm chuyên dụng, Groupware)? - Các doanh nghiệp thường sử dụng những phần mềm nào (Cho nghiệp vụ văn phòng, cho trao đổi nhóm, quản lý khách hàng … Các loại phần mềm chuyên dụng, Groupware)? Xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Xuân Duyên

Vụ Công nghệ thông tin xin trả lời:
Cám ơn bạn đã quan tâm đến những chính sách về CNTT do Bộ đã ban hành đặc biệt là những quan tâm về lĩnh vực phần mềm mã nguồn mở.
Về việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở: Như đã khẳng định trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước, Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển phần mềm tự do nguồn mở (PMNM) trong các cơ quan nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm nhanh chóng làm chủ công nghệ, tránh các hộp đen có thể ẩn chứa virut, phần mềm gián điệp trong các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin, tránh phụ thuộc vào các tập đoàn công nghệ độc quyền, đồng thời giảm chi phí mua bản quyền phần mềm, nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam.
Về kế hoạch triển khai ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở tại Việt Nam ((theo các quyết định 235/2004/QĐ –TTG của Thủ Tướng CP, Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT và Quyết định 08/2007/QĐ-BTTTT của Bộ TTTT...) đã và đang nhận được sự ủng hộ và thực hiện tích cực của rất nhiều các Bộ, ngành và địa phương. Tuy nhiên, vì thời gian yêu cầu thực hiện còn quá gấp nên thực tế quá trình triển khai tại các Bộ, ngành và địa phương còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Tình hình chung về tình hình ứng dụng PMNM của các Bộ, ngành, địa phương:
- Theo đánh giá sơ bộ tình hình triển khai 01 năm thực hiện Chỉ thị 07 trên cơ sở báo cáo của 12 Bộ và 48 địa phương:
+ Có 41/48 Sở TT&TT cấp tỉnh/thành phố đã thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị liên quan tổ chức các lớp tập huấn về triển khai cài đặt và hướng dẫn sử dụng PMNM văn phòng;
+ Có 9/12 Bộ, 12/48 địa phương đạt tiêu chí 100% máy trạm của đơn vị chuyên trách CNTT của Bộ, CQNB được cài đặt PMNM;
- Các phần mềm nguồn mở phổ biến đang và sử dụng hiện nay ở các Bộ, ngành và địa phương là Unikey, Firefox, Thunderbird, Open Office.
Có một số tỉnh miền núi tuy còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế và điều kiện triển khai nhưng vẫn đạt được kết quả rất tốt như: tỉnh Lào Cai, tỉnh Phú Thọ, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Gia Lai… đây thực sự là những địa phương điển hình trong công tác triển khai Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT.
Hiện nay chúng tôi chưa có thông tin về tình hình sử dụng PMNM của các khối doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nếu các bạn có thông tin về nhóm đối tượng này thì có thể cung cấp cho chúng tôi để tham khảo.

 

Độc giả: Phạm Lương Kiên - Hà Tĩnh
Xin Quý Bộ Thông tin và Truyền thông cho tôi hỏi: Để thiết lập 01 mạng truyền hình cáp tại địa phương thì cần những thủ tục gì? và các căn cứ để thực hiện. Khi lắp đặt cơ sở hạ tầng mạng truyền hình cáp thì có cần giấy phép thiết lập không? nếu có thì cần những thủ tục, căn cứ nào để thực hiện? Khi vi phạm trong hoạt động truyền hình cáp thì xử lý theo quy định nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Hiện nay mạng cáp truyền hình được quản lý theo Quyết định số 79/2002/QĐ-TTg ngày 18/06/2002 của Thủ tướng Chính phủ, theo Quyết định này truyền hình cáp là một loại hình báo chí; Bộ Văn hoá – Thông tin (Nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp giấy phép hoạt động báo chí cho các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình cáp.
Luật Viễn thông đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 01/07/2010 quy định hạ tầng mạng cáp truyền hình là hạ tầng mạng viễn thông và được quản lý theo các quy định của Pháp luật về viễn thông. Còn nội dung thông tin truyền hình được truyền tải trên mạng cáp truyền hình được quản lý theo các quy định của Pháp luật về báo chí.
Như vậy từ 01/07/2010, để thiết lập mạng cáp truyền hình thì phải lập Hồ sơ và gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông để xin cấp phép thiết lập mạng viễn thông. Khi vi phạm, thì xử phạt theo các quy định của Pháp luật về viễn thông và các quy định khác của Pháp luật khác có liên quan.
Nội dung thông tin truyền hình được truyền tải trên mạng cáp thì được quản lý theo các Quy định của Pháp luật về Báo chí. Đối với các vi phạm về nội dung thông tin truyền hình truyền tải trên mạng cáp thì xử lý theo Quy định của Pháp luật về báo chí và các quy định khác của Pháp luật khác có liên quan.

Độc giả: Do Van Cuong - Ngo 190-Nguyen Trai-Thanh Xuan
Hiện tôi đang có một thắc mắc là nếu loại bỏ công nghệ SDH ra khỏi mạng NGN hiện tại thì NGN có thể tồn tại được hay không? Tại sao? Nếu có một công nghệ mới xuất hiện thì việc thử nghiệm và đưa vào áp dụng sẽ được tiến hành ở đâu? Rất mong Quý anh, chị giải đáp giúp!

Vụ Khoa học và Công nghệ xin trả lời:
Công nghệ SDH: hỗ trợ các giao diện E1, STM1, STM4, STM16…phục vụ truyền tải cho mạng PSTN. Khi mạng IP phát triển, để tiếp tục sử dụng công nghệ truyền tải SDH, các nhà sản xuất phát triển đưa thêm các giao diện FE, GE để phục vụ truyền tải IP trên mạng quang gọi là NG-SDH.
Công nghệ DWDM là công nghệ ghép kênh theo bước sóng để tăng dung lượng, hỗ trợ các giao diện truyền dẫn ghép kênh tốc độ cao như 10GE, 40 GE, STM16, STM 64, STM 256…
Đối với mạng NGN được phát triển hoàn toàn trên công nghệ IP, các kết nối chỉ sử dụng giao diện FE, GE do đó chỉ cần sử dụng luôn các giao diện: FE quang, GE quang, 10GE quang để kết nối giữa các router ở cự ly từ 1km đến 70km (FE sử dụng công nghệ SFP; GE công nghệ XFP) do đó không cần sử dụng thiết bị truyền đẫn SDH.
Tương tự như vậy đối với mạng truyền dẫn đường trục có cự ly xa hơn, sử dụng công nghệ DWDM để tách ghép các luồng quang GE, 10GE.
Tuy nhiên, với các nhà khai thác và kinh doanh viễn thong, việc xây dựng mạng luôn có tính chất kế thừa và phát triển, mạng PSTN sẽ vẫn tồn tại cùng mạng IP NGN, đồng thời để đảm bảo hiệu quả đầu tư, hiệu quả kinh doanh, công nghệ truyền dẫn quang SDH vẫn tiếp tục được sử dụng hoặc nâng cấp để đáp ứng, phù hợp cho yêu cầu của mạng.
Sử dụng SDH hoặc NG SDH cho những khu vực nội hạt, truy nhập có lưu lượng không lớn. Một số nhà sản xuất thiết bị SDH đã xây dựng giải pháp chuyển đổi để có thể truyền tải IP trên các kênh STM truyền thống.
Về việc thử nghiệm công nghệ mới: Đối với các nhà khai thác, việc thử nghiệm cập nhật công nghệ mới  được tiến hành thử nghiệm, đo kiểm thông qua testlab hoặc kết nối thực tế tại những vùng có yêu cầu phù hợp sau khi đã có những hội thảo, xem xét, đánh giá lý thuyết về mặt công nghệ, sản phẩm.

Độc giả: Trương Thị Cúc Hương - Hanoi
Xin quý Bộ cho biết doanh nghiệp của chúng tôi chuyên đăng tin quảng cáo rao vặt (Muaban.net) muốn đăng ký đầu số trực tiếp với các nhà mạng, mà không phải thuê đầu số 8xxx hoặc 1900xxx của các công ty trung gian, thì có được phép hay không, và cần làm những thủ tục gì. Xin chân thành cảm ơn!

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Hiện tại các doanh nghiệp nội dung (Content Provider - CP) ký hợp đồng với các Doanh nghiệp viễn thông để sử dụng các mã số nhắn tin 8xxx (di động) hoặc số dịch vụ giá cao 1900xxxx (cố định). Nếu doanh nghiệp của bạn muốn trực tiếp sử dụng các mã, số này, bạn phải ký hợp đồng với các Doanh nghiệp viễn thông. Thủ tục cụ thể bạn có thể liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp viễn thông để biết thêm chi tiết.

Độc giả: Nguyễn Khánh Phương - Tổ 44 Phường Hồng Hà - TP Yên Bái
Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông Theo tôi được biết tại Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT đã quy định Trạm BTS loại 2: Là cột ăng ten thu, phát sóng thông tin di động và thiết bị phụ trợ được lắp đặt trên các công trình đã được xây dựng. Như vậy thì khi doanh nghiệp A dùng chung cột BTS với doanh nghiệp B còn phần nhà trạm thì dùng riêng thì trạm của doanh nghiệp A có được coi là trạm loại 2 không ? rât mong sớm nhận được sự quan tâm giải đáp của Bộ Thông tin và Truyền thông. Xin trân trọng cảm ơn!

Vụ Khoa học và Công nghệ xin trả lời:
Theo Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BXD-BTTTT, trạm BTS loại 2 là cột ăng ten thu, phát sóng thông tin di động và thiết bị phụ trợ được lắp đặt trên các công trình đã được xây dựng. Trường hợp bạn hỏi, đây vẫn là BTS loại 2 và 2 doanh nghiệp A và B sử dụng chung cột anten. Và 2 doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu về kiểm định theo đúng các quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông tương ứng với loại hình này.

Độc giả: ngô thanh phong - 56 trà coi a, xã mỹ hương, huyện mỹ tú sóc trăng
Tôi có kinh doanh dịch vụ internet (Đại lý internet), hôm rồi đoàn kiểm tra công an an ninh huyện có xuống kiểm tra cơ sở tôi, đoàn kiểm tra không phát hiện gì hết trong máy tôi, sau đó đoàn hỏi giấy phép kinh doanh tôi nói chưa có và lập biên bản tôi về vi phạm hành chính trong lĩnh vực internet (thiết lập hệ thống cung cấp dịch vụ internet công cộng không phép, không niêm yết giá, không có nội qui, không có thiết bị phòng cháy chữa cháy) và đoàn đã niêm phong tất cả phòng máy tôi và đem về công an huyện. Bộ cho hỏi với vi phạm như trên thì em bị phạt bao nhiêu (đây là lần đâu tiên vi phạm), còn về máy em thế nào nếu sau này bên công an trả lại thì bên công an chở lại trả hay em tự tay đến lấy về, và nếu tình trạng máy tôi sau khi lấy về có bị thay đổi tôi phải làm sao. Mong Bộ trả lời cho tôi được biết.

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP, Đại lý Internet phải có hợp đồng hợp đồng đại lý với nhà cung cấp dịch vụ. Bạn cần phải hoàn thành mọi thủ tục liên quan đến hợp đồng, điều kiện kinh doanh đại lý Internet trước khi bắt đầu công việc kinh doanh.
Trong trường hợp kinh doanh đại lý Internet không có hợp đồng đại lý, chủ điểm kinh doanh sẽ bị xử phạt từ 2 triệu đến 5 triệu đồng theo điểm b, khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2009/NĐ-CP.  Hình thức xử phạt bổ xung: Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính theo khoản 3 Điều 9 Nghị định số 28/2009/NĐ-CP Chính phủ.
Việc xử lý vi phạm như thế nào thuộc thẩm quyền của Đoàn Kiểm tra và người có thẩm quyền tại địa phương nơi bạn cư trú theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Bạn nên chủ động làm việc với Đoàn Kiểm tra để sớm biết kết quả xử lý.
Chúc bạn mạnh khoẻ, hạnh phúc.
 

Độc giả: Nguyễn Hồng Lĩnh -
Kính gởi: -Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Tôi tên: Nguyễn Hồng Lĩnh Thư điện tử: nguyenhonglinh04@gmail.com Xin được hỏi như sau: Hiện nay, ông Nguyễn văn Cán, chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng là người chịu trách nhiệm chính của cổng thong tin điện tử TP Đà Nẵng ( www.danang.gov.vn ) đã không chịu đăng tải nội dung văn bản của chủ tịch UBND TP Đà nẵng ( trừ những văn bản MẬT, TỐI MẬT, TUYỆT MẬT ) lên cổng thông tin điện tử của TP Đà Nẵng mà chỉ đăng phần trích yếu của văn bản, như vậy có đúng qui định tại Thông tư 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Rất mong nhận được sự trả lời của quí cơ quan có thẩm quyền. Trân trọng kính chào.

Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Sau khi nhận được câu hỏi của bạn, Bộ Thông tin và Truyền thông  đã kiểm tra trực tiếp trên trang thông tin điện tử của Thành phố Đà Nẵng tại địa chỉ (www.danang.gov.vn) và nhận thấy:
- Đối với các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý hành chính có liên quan, UBND Thành phố đã đăng tải đầy đủ, đảm bảo tuân thủ theo các quy định hiện hành.
- Đối với các thông tin, văn bản khác liên quan đến công tác chỉ đạo điều hành (bao gồm văn bản của chủ tịch UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và các văn bản khác): Các loại văn bản này có nhiều và được ban hành hàng ngày; thông thường, phạm vi và đối tượng quy định trong mỗi văn bản này chỉ trong một phạm vi nhất định, trong nhiều trường hợp có thể chỉ là một cá nhân hoặc một số ít người; bên cạnh đó thời gian hiệu lực của văn bản thường chỉ trong một giai đoạn nhất định. Do đó, việc đăng tải các văn bản này sẽ do các đơn vị chủ động lựa chọn đăng tải.
Hiện tại, Bộ Thông tin và Truyền thông đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan để nghiên cứu xây dựng và ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hơn nữa trong việc cung cấp thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo cơ quan trên trang/cổng thông tin điện tử để nâng cao hơn nữa việc cung cấp tối đa thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Chân thành cảm ơn ý kiến của bạn!

Độc giả: nam.golden - Bắc ninh
Bên tôi có nhập lô hàng Gồm : 2 Wireless Internet Phone Và 2 Wireless Access point là 2 điện thoại không dây Internet và 2 cổng Wifi. Công ty chúng tôi có cần phải xin giấy phép không. Và nếu phải xin giấy phép thi xin ở đâu thủ tục như thế nào. Xin cảm ơn !

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
Trường hợp thiết bị của bạn, cần xem xét tài liệu kỹ thuật kèm theo, nếu thiết bị có công suất phát nhỏ hơn 60mW thì không phải làm thủ tục đề nghị chứng nhận hợp quy và cấp giấy phép nhập khẩu. Trường hợp công suất phát của thiết bị từ  60mW trở lên thì phải thực hiện thủ tục đề nghị chứng nhận hợp quy theo quy định tại Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông và thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép nhập khẩu theo quy định tại Thông tư số 02/2006/TT-BBCVT ngày 24/4/2006 của Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông).
Bạn có thể liên hệ đến các địa chỉ sau:
1. Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông
· Địa chỉ: Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
· Điện thoại: 04.3782 0990 - Máy lẻ 106  - Fax: 04.3782 0998
2. Trung tâm Kiểm định và chứng nhận 2
· Địa chỉ: 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm – quận 1 – thành phố Hồ Chí Minh;
· Điện thoại: 08. 39105114 – Fax: 08. 39104723
3. Trung tâm Kiểm định và chứng nhận 3
· Địa chỉ: 42 Trần Quốc Toản - thành phố Đà Nẵng;
· Điện thoại: 0511.3897717 – Fax: 0511.3843007
Trân trọng!

Độc giả: Ngô Văn Minh - Công ty Công Thành- khu phố 4, đường Trường Sơn, Linh Trung , Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh
Kính thưa quý Bộ, Tôi chuyên làm thủ tục XNK cho công ty, gần đây, quý Bộ có ban hành thông tư số 08/2009/TT-BTTTT (ngày 24/3/2009) áp dụng 01/06/2009 ban hành danh muc sản phẩm ... phải công bố hợp quy. Theo đó tất cả máy vi tính cá nhân, xách tay hay máy chủ ... đều phải công bố hợp quy. 1 / Công ty chúng tôi đã tra cứu nhiều văn bản và liên lạc nhiều nơi thuộc Bộ như VILAS, Trung Tâm 3... nhưng không nơi nào nhận đăng ký hợp quy, không thể biết cơ quan nào nhận đăng ký hợp quy những sản phẩm này? 2/ Những sản phẩm như máy vi tình cá nhận, để bàn hay xách tay... đều liên tục thay đổi mã sản phẩm, cấu hình... như vậy sẽ gây rất nhiều khó khăn và tốn kém ... không cần thiết. Mỗi tháng có biết bao nhiêu dòng máy thay đổi, hợp quy xong tháng này thì tháng sau đã lạc hậu, người dân phải chạy theo hợp quy sao? Thậm chí hàng nhập phi mậu dịch (cho tặng) vài ba cái cũng phải đăng ký hợp quy sao? 3/ Việc công bố hợp quy có mục đích gì, có đem lại thêm sự phức tạp việc quản lý Nhà nườc hay nhằm bảo vệ người tiêu dùng? Bởi vì sản phẩm máy vi tính chỉ là 1 cấu kiện đơn giản, mọi người có thể mua từng linh kiện riêng biệt về để lắp ráp như 1 chiếc xe đạp, vậy thì hợp quy để làm gì? Gây thêm phiền hà cho người dân. Theo như trước đây thì tất cả máy vi tính nhập về đều phải kiểm tra nội dung văn hóa phẩm trong ổ đĩa cứng và các đĩa CD cài đặt máy... Nay thêm phần hợp quy nữa thì e là không phù hợp với thời đại công nghệ thông tin liên tục thay đổi như hiện nay. Mong Bộ giải đáp vướng mắc trên đây và xem như đây là góp ý tích cực cho sự đơn giản hòa thủ tục Hành chánh. Xin cảm ơn.

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin xin trả lời:
1 / Công ty chúng tôi đã tra cứu nhiều văn bản và liên lạc nhiều nơi thuộc Bộ như VILAS, Trung Tâm 3... nhưng không nơi nào nhận đăng ký hợp quy, không thể biết cơ quan nào nhận đăng ký hợp quy những sản phẩm này.?
Để thực hiện thủ tục công bố hợp quy, Ông/bà có thể liên hệ Cục quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông theo các địa chỉ sau:
+ Khu vực miền Bắc:
Trung tâm Chứng nhận
Địa chỉ: Toà nhà ICTQC – Yên Hoà - Cầu Giấy – Hà Nội
Điện thoại: 0437820990 Máy lẻ: 106           Fax: 0437820998
+ Khu vực miền Trung:
Trung tâm kiểm định và chứng nhận 3
Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng
Điện thoại: (0511) 3827896 Máy lẻ: 113     Fax: (0511) 3843007
+ Khu vực miền Nam:
Trung tâm kiểm định và chứng nhận 2
Địa chỉ: Số 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0839111386 Máy lẻ: 23     Fax: 0839104723
Chi tiết có thể tìm hiểu thêm tại Website của Cục quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và Truyền thông.: http://www.ictqc.gov.vn
2/ Những sản phẩm như máy vi tính cá nhận, để̉̉ bàn hay xách tay... đều liên tục thay đổi mã sản phẩm, cấu hình... như vậy sẽ gây rất nhiều khó khăn và tốn kém ... không cần thiết. Mỗi tháng có biết bao nhiêu đòng máy thay đổi, hợp quy xong tháng này thì tháng sau đã lạc hậu, người dân phải chạy theo hợp quy sao? Thậm chí hàng nhập phi mậu dịch (cho tặng) vài ba cái cũng phải đăng ký hợp quy sao?
Theo Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông Quy định về chứng nhận và công bố hợp quy đối với sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông thì:
- Nhà sản xuất, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện thủ tục công bố hợp quy, người dân, người sử dụng không phải làm thủ tục công bố hợp quy.
- Trường hợp sản phẩm nhập khẩu hoặc sản xuất ra để sử dụng mà không đưa vào lưu thông trên thị trường trong nước thì cũng không phải thực hiện thủ tục công bố hợp quy.
3/ Việc công bố hợp quy có mục đích gì, có đem lại thêm sự phức tạp việc quản lý Nhà nườc hay nhằm bảo vệ người tiêu dùng?
Công bố hợp quy là biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá (mang tính chất bắt buộc) thể hiện việc Tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo cho người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước sản phẩm của mình phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật. Việc công bố hợp quy được thực hiện theo quy định tại Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa. 

Độc giả: Bùi VĂn Tùng - 25/3Quang TrugnP 12 Q Gò Vấp
Công ty chúng tôi có hợp đồng đóng mới tàu biển xuất khẩu. Hiện có nhập khẩu lô thiết bị máy liên lạc viễn thông trang bị cho tàu nói trên, nhưng gặp phải vấn đề thủ tục để nhập khẩu như sau: Sau khi nộp hồ sơ xin thủ tục NK tại TT Kiểm định chứng nhận 2, thì mới biết lô hàng này phải làm thủ tục xin hợp quy, mặc dù chúng tôi đã giải thích rằng lô máy này trang bị cho tàu đóng mới để xuất khẩu, không họat động tại ViệT Nam. Nhưng vẫn không thuyết phục được, vẫn yêu cầu làm thủ tục hợp quy, tuy chúng tôi đã yêu cầu nhà cung cấp cung cấp thêm các loại giấy tờ nhưng họ cho rằng đó không phải là thông lệ trong thương mại vì họ gửi tài liệu kĩ thuật là đủ. Thiết nghĩ tại sao không cho làm thủ tục tạm nhập rồi sau đó tái xuất theo con tàu, không phải rắc rối thủ tục, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hơn nữa chi phí cho việc hợp quy này không phải là nhỏ (hơn 75,000,000VND). Trong khi ngành đóng tàu là ngành đang được chính phủ hỗ trợ phát triển. Rất mong sớm được thông tin phản hồi từ Quý Bộ

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và Truyền thông xin trả lời:
1. Đối với trường hợp nhập khẩu thiết bị:
Nếu thiết bị cần nhập khẩu thuộc “Danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy” thì phải thực hiện thủ tục chứng nhận hợp quy theo quy định tại Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT. Bạn có thể xem hướng dẫn cụ thể website của Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông tại địa chỉ www.ictqc.gov.vn
2. Trường hợp tạm nhập tái xuất:
Việc tạm nhập tái xuất thực hiện theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 qui định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Theo đó việc cấp phép tạm nhập tái xuất thuộc thẩm quyền của Bộ Công Thương, Cục Quản lý chât lượng Công nghệ thông tin và truyền thông sẽ cho ý kiến chấp thuận về mặt kỹ thuật đối với thiết bị. Địa chỉ liên hệ:
Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông
Địa chỉ: Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.3782 0990 - Máy lẻ 408  - Fax: 04.3782 0998
3. Lệ phí:
- Lệ phí chứng nhận hợp quy đối với thiết bị thu-phát vô tuyến hàng hải là 3.000.000 đồng/chủng loại, giấy chứng nhận hợp quy có giá trị trong vòng 02 năm.
- Lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu hoặc công văn về tạm nhập, tái xuất: Chưa thu lệ phí này.
Trân trọng!

Độc giả: Trương Minh Tuấn - Đồng tháp
Cho tôi hỏi, hiện tại Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra quyết định 08/2007 về việc ban hành danh mục các sãn phẩm phần mềm mã nguồn mở Trong đó có hệ điều hành Ubuntu, như vậy thì các cán bộ tại cơ quan có nên nghiên cứu hay xin đi học hoặc là tập huấn về hệ điều hành này không? Tôi rất băn khoăn về vấn đề này, Hiện tại thì tôi cũng đã nghiên cứu một phần về Ubuntu nhưng sẽ khó ứng dụng nó trong cơ quan được! Tôi chân thành cảm ơn và chờ thư trả lời của Bộ

Vụ Công nghệ thông tin xin trả lời:
Đầu tiên chúng tôi phải xin đính chính lại ý câu hỏi của bạn như sau: trong Quyết định 08/2007/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục các sản phẩm PMMNM thì không có HĐH mã nguồn mở Ubuntu. HĐH mã nguồn mở Ubuntu chỉ được ban hành trong Thông tư 41/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 về việc Bổ sung sản phẩm vào Danh mục các sản phẩm PMMNM đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước để thay thế Quyết định 08/2007/QĐ-BTTTT.
HĐH mã nguồn mở Ubuntu đã được các chuyên gia trong Hội đồng tư vấn, xây dựng các Danh mục sản phẩm PMMNM (được thành lập theo Quyết định 308/2007/QĐ-BTTTT) đánh giá đáp ứng được các tiêu chuẩn của chuẩn quốc tế về PMMNM và đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các tổ chức, cơ quan nhà nước.
Để sử dụng được các sản phẩm PMMNM nói chung và HĐH mã nguồn mở Ubuntu nói riêng thì đòi hỏi người sử dụng và các cán bộ chuyên trách CNTT tại các đơn vị, CQNN cần phải nghiên cứu, tham gia các lớp đào tạo, tập huấn về PMMNM do các Bộ, ngành, địa phương tổ chức.
Bộ TT&TT rất khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong việc nâng cao nhận thức và tự nghiên cứu, tổ chức và tham gia các lớp đào tạo và tập huấn về PMMNM.
Hiện tại, có rất nhiều tài liệu hướng dẫn cài đặt và sử dụng HĐH mã nguồn mở Ubuntu trên mạng internet và trên thị trường, bạn có thể tải về máy để đọc và nghiên cứu thêm.

 

Độc giả: Nguyễn Việt Hùng - Hà Nội
Tôi muốn hỏi thủ tuc xin giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông VoIP tại Việt Nam cần những điều kiện gì, và trình tự xin phép như thế nào? Cảm ơn nhiều.

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Theo các quy định hiện hành về điện thoại IP tại Việt Nam hiện nay, khái niệm điện thoại IP được hiểu như sau:
Điện thoại IP = VoIP + Điện thoại Internet
Trong đó:
“Điện thoại VoIP: là dịch vụ điện thoại liên quan đến người việc người sử dụng dùng điện thoại thông thường (trao đổi tín hiệu thông qua mạng PSTN), quay mã dịch vụ (171, 178, 177, …) để kết nối với hệ thống cung cấp dịch vụ (của nhà cung cấp: VNPT, Viettel, SPT, …) và thực hiện cuộc gọi”;
“Điện thoại Internet là hình thức sử dụng máy tính hay các thiết bị đầu cuối có chức năng tương đương truy cập vào mạng Internet để kết nối đến máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ và thực hiện cuộc gọi”;
Về phần kênh truyền dẫn, hai dịch vụ này được phân biệt như sau:
- dịch vụ VoIP sử dụng kênh truyền dẫn là kênh thuê riêng (leasedline) để kết nối giữa các POP với nhau: ví dụ như dịch vụ 171, 178, 177, …
- dịch vụ điện thoại Internet sử dụng kênh truyền dẫn là mạng Internet công cộng: ví dụ như điện thoại Internet loại hình PC-to-Phone chiều đi quốc tế do công ty QTnet, DataLink đang cung cấp…
Theo quy định hiện hành, thì:
- Đối với dịch vụ VoIP: chỉ những doanh nghiệp viễn thông mà nhà nước chiếm không ít hơn 51% cổ phần mới được xem xét cấp giấy phép
Đối với dịch vụ điện thoại Internet: mọi thành phần kinh tế điều có thể xin cấp giấy phép. Điều kiện cấp phép và thủ tục cấp phép tuân theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và Điều 41, Điều 39 Nghị định số 160/204/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại Internet ngoài quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải có thêm các trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Thông tư 05/2008/TT-BTTTT ngày 12/11/2008 hướng dẫn Nghị định 97/2008/NĐ-CP. Bạn có thể xem các văn bản này trên website Bộ TTTT: www.mic.gov.vn

Độc giả: nguyen lam duy linh - 9b trần phú q.ninh kiều tp cần thơ
Xin cho biết văn bản nào quy định, định nghĩ cụ thể về: điện báo, telex, fax

Vụ Viễn thông xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
“Điện báo, telex, fax” có thể hiểu là thiết bị điện báo, telex, fax hoặc dịch vụ điện báo, telex, fax. Thực tế thì không có văn bản nào định nghĩa chính thống về  điện báo, telex và fax. Quý độc giả có thể tham khảo trong Bách khoa toàn thư hay trên mạng Internet. Dưới đây là quy định trong Nghị định 160/2004/NĐ-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về viễn thông liên quan đến thiết bị và dịch vụ điện báo, telex và fax
(văn bản được đăng trên trang web của Bộ Thông tin và Truyền thông, http://mic.gov.vn/VBPL/vn/documentdetail/8900/index.mic).
“Điều 5. Thiết bị đầu cuối thuê bao và mạng nội bộ
1. Thiết bị đầu cuối thuê bao là thiết bị đầu cuối cố định hoặc di động  của người sử dụng được đấu nối hoà mạng vào mạng viễn thông công cộng thông qua điểm kết cuối của mạng viễn thông công cộng.
2. Thiết bị đầu cuối thuê bao được phân thành:
a) Thiết bị đầu cuối thuê bao một đường là thiết bị đầu cuối không có chức năng chuyển mạch hoặc kết nối cuộc gọi bao gồm: thiết bị điện thoại cố định, thiết bị điện thoại di động, thiết bị fax, thiết bị nhắn tin, modem, thiết bị đầu cuối truy nhập vô tuyến Internet, máy tính, thiết bị kết hợp tính năng của các thiết bị nói trên;
b) Thiết bị đầu cuối thuê bao nhiều đường là thiết bị đầu cuối có chức năng chuyển mạch, kết nối cuộc gọi bao gồm: Tổng đài PABX, thiết bị cổng truy nhập vô tuyến Internet, thiết bị có tính năng kết nối cuộc gọi;
c) Các thiết bị đầu cuối thuê bao khác theo quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông.
Điều 13. Phân loại dịch vụ viễn thông
1. Dịch vụ viễn thông cơ bản là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin của người sử dụng dưới dạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng.
2. Dịch vụ cơ bản bao gồm:
a) Dịch vụ viễn thông cố định (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế):
- Dịch vụ điện thoại (thoại, Fax, truyền số liệu trong băng thoại);
- Dịch vụ truyền số liệu;
- Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình;
- Dịch vụ thuê kênh;
- Dịch vụ telex;
- Dịch vụ điện báo”.

Độc giả: Nguyễn công tần - biên hòa, đồng nai
Tôi muốn hỏi về nghị định chống thư rác. Hiện tại tôi có rao bán một số sản phẩm trên mạng và tôi có dùng bộ sản phẩm danh sách 28 triệu địa chỉ Email & danh bạ 120 ngàn doanh nghiệp Việt Nam để gửi thư quảng cáo. Vậy xin hỏi khi gửi thư như vậy tôi có bị cho là gửi thư rác hay không? (tôi gửi thư bằng trình duyệt Apps của google, không dùng phần mềm boom thư hàng loạt và mỗi ngày chỉ gửi tối đa 500 thư đến 500 địa chỉ email khác)

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam trả lời:

Với các thông tin anh đưa ra thì có thể khẳng định lại hành động trên của anh là vi phạm nghiêm trọng Nghị định 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác. Cụ thể anh đã vi phạm các nội dung bị nghiêm cấm như sau:

- Trao đổi, mua bán danh sách địa chỉ thư điện tử (Điểm 6, Điều 6)

- Không phải là nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo nhưng vẫn gửi thư điện tử quảng cáo khi chưa được sự đồng ý của người nhận (Điểm 1, Điều 7)

Đối với mỗi hành vi vi phạm trên, mức phạt có thể lên tới 40 triệu đồng

Độc giả: Nguyễn Mậu Tuấn - Quảng Nam
Kính hỏi Bộ TTTT: về việc xây dựng BTS loại 2 - Hiện nay, tại nhiều khu đô thị, khu du lich chính quyền địa phương yêu cầu xây dựng BTS loại 2 với hình thức ngụy trang như: bảng quảng cáo, hộp đèn, Điều hòa, anten cột cóc độ cáo dưói 3m,... nghĩa là nhìn bề ngoài không thể phát hiện. - Xin hỏi Bộ những loại anten này có cần làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng như TT12 không? - Việc xây dựng các anten này không mang tính chất xây dựng, không làm dầm móng mà chỉ lắp đặt và ngụy trang. Vậy, nếu xây dựng được thì cần qua những thủ tục gì cho hợp lý?!

Vụ Khoa học và Công nghệ xin trả lời:
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BXD-BTTTT, trạm BTS loại 2 là cột ăng ten thu, phát sóng thông tin di động và thiết bị phụ trợ được lắp đặt trên các công trình đã được xây dựng. Và các trạm BTS loại 2 với mọi hình thức, được lắp đặt ở trong phạm vi các khu vực phải xin phép xây dựng (do UBND Tỉnh/Thành phố quy định) thì phải tuân thủ các yêu cầu về giấy phép xây dựng và thiết kế (cụ thể theo như Thông tư).

Độc giả: Trương Phước Thành - 98 Nguyễn Huệ - Huế
Hiện nay doanh nghiệp chúng tôi đã đầu tư lắp đặt mạng cáp điện thoại và tổng đài điện thoại nội bộ trong khách sạn. Xin hỏi: Để hoạt động, ngoài việc đăng kí sử dụng dịch vụ với VNPT thì chúng tôi có phải xin giấy phép của Bộ thông tin và truyền thông không? Hồ sơ bao gồm những loại giấy tờ nào? Địa chỉ nộp hồ sơ ở đâu? Chân thành cám ơn !

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Việc lắp đặt mạng cáp điện thoại và tổng đài nội bộ và cung cấp dịch vụ điện thoại cho khách trong khách sạn được thực hiện theo quy định về đại lý dịch vụ viễn thông và bán lại dịch vụ viễn thông tại Điều 14 và Điều 25 - Nghị định 160/2004/NĐ-CP ngày 03/09/2004 của Chính phủ.
Doanh nghiệp của bạn phải đăng ký kinh doanh, nộp thuế theo quy định của pháp luật, phải có quyền sử dụng hợp pháp các địa điểm để kinh doanh và được phép bán lại dịch vụ điện thoại cố định trong phạm vi khách sạn này. Về thủ tục, bạn phải ký kết hợp đồng đại lý bán lại với doanh nghiệp viễn thông, kết nối đến doanh nghiệp viễn thông, phải niêm yết công khai giá cước bán lại dịch vụ viễn thông cố định cho khách hàng trong phạm vi khách sạn. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bạn và doanh nghiệp viễn thông được thể hiện trong Hợp đồng đại lý đã ký kết giữa hai bên.

Độc giả: B- S - Nha Trang
Chào quý cơ quan! Tôi đang công tác ở tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay, theo tôi được biết có rất nhiều công trình viễn thông trên địa bàn tỉnh như trạm BTS, nhà trạm, các điểm bưu cục, điểm chuyển mạch... Vậy cho hỏi, các công trình trên có thuộc an ninh quốc gia và văn bản nào quy định các công trình viễn thông đó thuộc công trình an ninh quốc gia, công trình trọng điểm...

Vụ Khoa học và Công nghệ xin trả lời:
Theo quy định tại Luật Viễn thông, công trình viễn thông là công trình xây dựng, bao gồm hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (nhà, trạm, cột, cống, bể) và thiết bị mạng được lắp đặt vào đó. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo vệ an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông công cộng, chủ mạng viễn thông dùng riêng, đại lý dịch vụ viễn thông và người sử dụng dịch vụ viễn thông có trách nhiệm bảo vệ mạng viễn thông, thiết bị đầu cuối của mình và tham gia bảo vệ cơ sở hạ tầng viễn thông công cộng.
Về quy định công trình viễn thông thuộc loại công trình an ninh quốc gia hoặc công trình trọng điểm,... Bộ TTTT và Bộ Công An đã phối hợp ban hành Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA v/v “Bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng và an ninh thông tin trong hoạt động bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin”, Thông tư này quy định cụ thể việc lập “danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng khác về cơ sở hạ tầng bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin” và quy định về quy trình, thẩm quyền phê duyệt danh mục này.
Quý độc giả có thể tham khảo các văn bản nêu trên tại trang http://mic.gov.vn/VBQPPL/

Độc giả: Lê Xuân Quang - Phúc Yên-Vĩnh Phúc
Theo Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT thì từ ngày 1 tháng 6 năm 2009 bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các thiết bị viễn thông, thiết bị phát sóng vô tuyến điện thì phải chứng nhận và công bố hợp quy, Là 1 đơn vị sản xuất Ô tô, chúng tôi sử dụng thiết bị điều khiển vô tuyến điện (Khóa cửa xe Ô tô) tôi xin hỏi chúng tôi có phải làm thủ tục chứng nhận và công bố hợp quy hay không? Nếu sản phẩm của chúng tôi được nhập từ nước ngoài về thì sẽ phải làm những thủ tục gì?

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
Thiết bị cảnh báo, điều khiển xa bằng sóng vô tuyến điện thuộc hai danh mục sau:
- “Danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy” ban hành kèm theo Thông tư số 07/2009/TT-BTTT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Do đó, bắt buộc phải thực hiện thủ tục chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy trước khi cung cấp ra thị trường.
- “Danh mục thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện nhập khẩu cần giấy phép nhập khẩu” qui định tại Phụ lục số 02 của Thông tư số 02/2006/TT-BBCVT ngày 24/4/2006 của Bộ Bưu chính, Viễn thông hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài đối với hàng hoá thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông). Do đó khi nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu và điều kiện kỹ thuật để cấp giấy phép nhập khẩu là giấy chứng nhận hợp quy.

Độc giả: v. dung -
Xin hỏi về Thông tư số 24/2009/TT-TTTT ngày 23/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông về chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với các đơn vị hoạt động thông tin và truyền thông, cụ thể tại biểu số 07/DS dành cho doanh nghiệp có hoạt động công nghệ thông tin: tại mục Mã sản phẩm (cột B, trong phần 1. Sản lượng sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, điện tử chủ yếu), chưa nêu cụ thể Mã sản phẩm lấy từ đâu, theo em biết trong quyết định 1141/QĐ-BBCVT (đã bãi bỏ) tại biểu 02 có mục Mã số thiết bị ( tại phần 2. Sản lượng sản xuất, lắp ráp, xuất khẩu trực tiếp sản phẩm công nghiệp công nghệ thông tin) có giải thích về Mã số thiết bị như sau: Mã số thiết bị, thành phẩm theo mã số Danh mục hàng hoá Xuất Nhập khẩu VN (Mã số HS - lấy tối đa số chữ số). Vậy có phải Mã sản phẩm (24/2009/TT-TTTT) cũng giống như Mã số thiết bị (1141/QĐ-BBCVT) không? Ngoài em có tìm thấy thông tin về Danh mục hàng hoá Xuất Nhập khẩu VN tại trang: (http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=405&idmid=6&ItemID=1849) vậy có thể dùng để tham khảo mã sản phẩm không ? Xin hỏi thêm nếu danh nghiệp sản xuất gia công phần mềm có cần điền mục 1, biểu số 07/DS (Sản lượng sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, điện tử chủ yếu) không hay mục này chỉ dành cho doanh nghiệp phần cứng, thiết bị điện tử? xin cảm ơn

Vụ Công nghệ thông tin xin trả lời:
Bạn hiểu việc ghi mã như trong chế độ báo cáo theo Quyết định số 1141/QĐ-BBCVT là đúng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Quyết định số 1141/QĐ-BBCVT, một số đơn vị phản ánh việc ghi mã theo hướng dẫn là rườm rà, gây khó khăn cho doanh nghiệp, tốn thời gian của doanh nghiệp....Hiện nay, Bộ TTTT đã ban hành Thông tư số 24/2009/TT-TTTT ngày 23/7/2009 quy định việc áp dụng chế độ, mẫu biểu báo cáo mới. Cột Mã sản phẩm (cột B, trong phần 1. Sản lượng sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, điện tử chủ yếu) trong Thông tư 24 sẽ do doanh nghiệp ghi mã số theo Mã quản lý sản phẩm của doanh nghiệp, không bắt buộc ghi theo hệ thống mã số hài hòa thuế quan (HS).
Trường hợp doanh nghiệp ghi Mã sản phẩm theo danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam, hay ghi theo HS thì cũng đều được chấp nhận. Chỉ có điều cần ghi đúng và nhất quán. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp sản xuất và gia công phần mềm thì khuyến khích doanh nghiệp khai vào mục đó nếu việc khai mã và mẫu biểu không gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Độc giả: Lê Hoàng Nguyên - 81-85 Hàm Nghi Quận 1
Công ty tôi là văn phòng đại diện, như vậy khi chúng tôi làm chứng nhập hợp quy sau đó đại lý của chúng tôi sử dụng chứng nhận này để nhập hàng và bán cho người sử dụng thì có được không và tại sao? Xin cho hỏi nếu 1 doanh nghiệp khác dùng giấy chứng nhận hợp quy của doanh nghiệp này nhập máy về bán thì có được không? Trong trường hợp nếu Bộ TTTT quy định là doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm đó phải có giấy chứng nhận hợp quy nhưng Hải Quan lại không yêu cầu như vậy miễn có giấy chứng nhận hợp quy và không bắt buộc là của doanh nghiệp nhập hàng thì trong trường hợp này có vi phạm không và hình thức xử lý thế nào? Xin vui lòng cho biết sự khác biệt cơ bản giữa quyết định 44/2006QĐ-BBCVT và thông tư 06/2009/TT-BTTTT?

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và Truyền thông xin trả lời:
- Theo quy định hiện hành, tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa phải thực hiện thủ tục chứng nhận và công bố hợp quy trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường Việt Nam.
- Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông Quy định về chứng nhận và công bố hợp quy đối với sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông thay thế Quyết định số 44/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành « Quy định chứng nhận và công bố phù hợp tiêu chuẩn đối với sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông» . Quy định tại hai văn bản giống nhau về nguyên tắc, chỉ khác một sô điểm nhỏ trong thủ tục. Bạn có thể tham khảo hai văn bản này tại website của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Độc giả: Đổ Văn Hiền - Sài Gòn
Tôi muốn đăng kí mạng di động mới hoạt động trên thị trường VIệt Nam. Không biết thủ tục và cách thực hiện như thế nào? Mong Bộ trả lời cho tôi. Xin cám ơn!!!

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Câu hỏi của bạn có thể đề cập đến hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, bạn muốn xin cấp giấy phép để thiết lập và kinh doanh 01 mạng thông tin di động mới hoặc trường hợp thứ hai là bạn muốn trở thành khách hàng sử dụng 01 mạng thông tin di động mới đã khai trương, Bộ Thông tin và Truyền thông xin trả lời như sau :
1- Trường hợp thứ nhất: Bạn muốn xin phép để thiết lập và kinh doanh 01 mạng thông tin di động mới.
Việc cấp phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất được quy định tại Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 07/06/2002 (Điều 45, 46 của Chương 3) và tại Nghị định số 160/2004/NĐ-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về viễn thông (Điều 36 đến Điều 41 của Chương IV).
Hồ sơ xin cấp phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất được gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông, số 18 Nguyễn Du, Tp.Hà Nội.
Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp nhận hồ sơ xin phép, tiến hành thẩm định trong thời gian 75 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không đồng ý, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiêm thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do từ chối cấp phép cho doanh nghiệp xin phép biết. Trường hợp hồ sơ xin phép đảm bảo về cơ bản các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, Ngành liên quan và tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến về việc xin cấp phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp. Trường hợp nhận được ý kiến đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm cấp giấy phép cho doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, để thiết lập 01 mạng thông tin di động mới, bạn cần tìm hiểu xem dự kiến xin phép băng tần nào, có phù hợp với Quy hoạch băng tần Bộ đã ban hành hay không, đã có ai sử dụng hay chưa, …
2- Trường hợp thứ hai : Bạn muốn là khách hàng sử dụng 01 SIM của 01 mạng mới khai trương.
Hiện nay các mạng thông tin di động tại Việt Nam đang có rất nhiều các chương trình phục vụ khách hàng, các đại lý phân phối SIM trên khắp đất nước. Bạn chỉ cần liên hệ với các cửa hàng phân phối SIM hoặc trực tiếp liên hệ với Doanh nghiệp để được trở thành người sử dụng của mạng đó. Danh sách, địa chỉ các Doanh nghiệp di động tại Việt Nam có trên Website của Bộ Thông tin và Truyền thông www.mic.gov.vn.

 

Độc giả: Hoàng Ngọc Linh - Xuân Tân Thọ Xuân Thanh Hóa
Tôi có 2 câu hỏi muốn hỏi như sau: 1/ Theo quy định thì mỗi cá nhân chỉ được sở hữu 3 số điện thoại của mỗi mạng. Vậy khi hàng loạt Sim đã kích hoạt và được bán cho khách hàng sử dụng, thì bây giờ các thuê bao đó phải làm gì để đăng ký lại thông tin cá nhân? 2/ Theo quy định khi khai báo lại thông tin cá nhân, phải cầm Chứng minh thư chính chủ ra cửa hàng để thay đổi. Vậy tôi mua Sim đã khai báo thông tin cá nhân từ trước thì sao? Trong khi đó tôi vẫn dùng Sim như bình thường không có tranh chấp với ai cả? Xin cảm ơn!

Vụ Viễn thông xin trả lời:
- Căn cứ theo Thông tư 22/2009/TT-BTTTT và các văn bản hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện về quản lý thuê bao di động trả trước, đối với chủ thuê bao (quy định tại các khoản 2, 3, 4 - Điều 6 của Thông tư) là cá nhân đã đăng ký thông tin thuê bao trước ngày 10 tháng 8 năm 2009 và đang sử dụng nhiều hơn 03 số thuê bao di động trả trước của mỗi mạng thông tin di động, các doanh nghiệp thông tin di động có trách nhiệm: tổ chức thông báo, hướng dẫn chủ thuê bao thực hiện việc thay đổi thông tin thuê bao đã đăng ký (đăng ký lại thông tin thuê bao) theo quy định đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2009. Chủ thuê bao thực hiện theo hướng dẫn của doanh nghiệp thông tin di động đến các chủ điểm giao dịch được ủy quyền gần nhất của doanh nghiệp để kiểm tra thông tin và đăng ký lại thông tin thuê bao.
- Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thuê bao trong quá trình sử dụng dịch vụ, Thông tư 22/2009/TT-BTTTT quy định đăng ký thông tin thuê bao cho cá nhân chỉ sử dụng duy nhất 1 loại giấy tờ là chứng minh thư hoặc hộ chiếu đang còn thời hạn sử dụng.
Trong trường hợp số thuê bao hiện đang sử dụng đã có thông tin thuê bao từ trước mà không phải của chính chủ thuê bao hiện đang sử dụng thì cần phải tiến hành đăng ký lại thông tin thuê bao cho chính xác bởi vì khi bị phát hiện, thuê bao sẽ bị cắt liên lạc đồng thời nếu có phát sinh tranh chấp trong quá trình sử dụng dịch vụ hoặc liên quan đến trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia thì người hiện đang sử dụng số thuê bao này không được sự hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ hoặc sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật theo quy định hiện hành. 

Độc giả: Châu Văn Hưng - ấp Trung 1, thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An GIang
Hiện nay chính phủ đã ban hành Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet để thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ-CP đã có hiệu lực. Vậy em hỏi thông tư liên tịch số Số: 02 /2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT ngày 14/7/2005 về quản lý đại lý Internet còn hiệu lực thi hành hay không
Câu hỏi của bạn trùng với câu hỏi số 38 của Độc giả Huỳnh Thị Thu Thùy ở Quảng Ngãi. Mời bạn xem lại câu trả lời số 38 ở trên.
Độc giả: Hoàng Lê Nhu - 3/11, Lương Định Của, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội
Gửi Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, Tôi tên Hoàng Lê Trung, là Giám đốc công ty TNHH Thái Ngọc có địa chỉ tại 129/12, Lê Lư, Phường Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có một vấn đề muốn hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông để thực hiện và chấp hành theo đúng pháp luật. Gia đình tôi hiện đang kinh doanh mặt hàng INOX tại thành phố Hồ Chí Minh và có website là "www.thaingoc.net", vào ngày 07-8-2009 công ty Thái Ngọc có nhận được một e-mail từ Bộ Thông tin và Truyền thông về việc chúng tôi đang sử dụng tên miền quốc tế thaingoc.net cho website của mình mà chưa thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông và cũng theo e-mail này thì chúng tôi đã vi phạm quy định tại Điều 23 – Luật Công nghệ thông tin. Vi phạm này sẽ bị xử phạt theo Điều 11 – Nghị số 28/2009/NĐ-CP ngày 20/3/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet: ”Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tên miền cấp cao khác tên miền “.vn” mà không thông báo Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định”. Tôi muốn hỏi thư này có phải được Bộ Thông tin và Truyền thông gửi đến chúng tôi hay không? Và hiện chúng tôi cũng đã thực hiện việc đăng ký thông báo tên miền theo website do Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp. Chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào. Hoàng Lê Trung

Trung tâm Internet Việt Nam xin trả lời câu hỏi của bạn Trung như sau:
Bức thư bạn hỏi là của Trung tâm Internet Việt nam – VNNIC , một đơn vị có chức năng quản lý tài nguyên internet tại Việt nam của Bộ Thông tin và Truyền thông gửi đến để nhắc nhở bạn. Cám ơn bạn đã thực hiện việc thông báo tên miền tại website : thongbaotenmien.vn của Bộ.

Độc giả: Lê Hữu Nam - 23 Lê Quý Đôn, Đông Hà, Quảng Trị
Tôi vẫn chưa hiểu định nghĩa Xuấn bản phẩm (nội dung, hình thức, ...) ví dụ như tài liệu tập huấn của một cơ quan nào đó có phải là một xuất bản phẩm không? Vậy tôi kính nhờ Bộ TT&TT định nghĩa

Định nghĩa xuất bản phẩm đã có trong Luật xuất bản, mời bạn tham khảo tại http://mic.gov.vn/VBQPPL/vn/documentdetail/8617/index.mic

Độc giả: Vũ Quốc Việt - Hải phòng
Kính gửi Ban Quản trị, Hiện tôi đang tìm thông tin về Danh sách các Doanh nghiệp hiện đang cung cấp dịch vụ điện thoại Internet. Tôi không tìm thấy trong Website của Bộ. Nếu Ban quản trị có thông tin này thì làm ơn gửi tới địa chỉ mail của tôi. Xin trân trọng cám ơn.

Thông tin bạn cần tìm hiện đang có trên website Bộ tại địa chỉ http://mic.gov.vn/vn/newsdetail/solieuthongke_vienthong/9683/index.mic. Bạn nhấn vào chi tiết để xem.

Chúc bạn thành công

Độc giả: Nguyễn Hoàng Diệp - 005A Nguyễn Ngọc Ba, Phường 6, Tp Mỹ Tho, Tiền Giang
Xin hỏi thủ tục xin đổi giấy phép thiết lập trang tin điện tử trên Internet của cơ quan nhà nước. (giấy phép cũ sắp hết hạn, xin cấp lại giấy phép mới) Trân trọng cảm ơn.
Mời bạn tham khảo thông tin tại địa chỉ này http://mic.gov.vn/vn/proceduredetail/ptthtttt_cucql/9818/index.mic. Nếu cần thông tin chi tiết, bạn có thể liên hệ với Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử 50 Triệu Việt Vương - Hà Nội. Điện thoại: 04.39448035, Fax: 04.39448036. Email: vanthucucqlptth@mic.gov.vn. 
Độc giả: nguyen thanh - DakLak
Hỏi: Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Thông tư hướng dẫn giải quyết việc tranh chấp tên miền trong nước. Vậy các vụ việc tranh chấp tên miền quốc tế nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều là người Việt Nam thì được giải quyết như thế nào (cơ quan nào giải quyết). Rất mong được sự quan tâm, trả lời của Bộ.

Trung tâm Internet Việt Nam xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Khi bạn sử dụng tên miền quốc gia .vn, bạn sẽ được pháp luật bảo vệ, khi có tranh chấp bạn sẽ được Trung tâm Internet Việt Nam tư vấn, giúp đỡ trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật hiện hành.
Còn bạn sử dụng tên miền quốc tế, khi có tranh chấp bạn sẽ phải lựa chọn một tổ chức trọng tài quốc tế đứng ra phân xử, phí trả cho trọng tài quốc tế ít nhất là 3000 US$ /1 tên miền chưa kể chi phí bạn phải theo hầu các phiên xử tại nước ngoài. Tổ chức tên miền quốc tế ICANN đã phối hợp với tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO xử lý tranh chấp tên miền quốc tế như .com; .net . Bạn có thể tham khảo www.wipo.org.

 

Độc giả: Nguyễn Tấn Hoàng - Đồng Tháp
Xin hỏi, đại lý internet của tôi mới mở đã làm hồ sơ và hợp đồng đại lý với Viễn Thông huyện nhưng đi vào hoạt động hơn 3 tháng rồi mà phía Viễn Thông huyện vẫn chưa ký xong hợp đồng cho tôi mặc dù vẫn thu cước đường truyền đầy đủ (nghe nói phải chuyển lên Viễn thông tỉnh ký hợp đồng). Vì vậy khi đoàn kểm tra internet đến tôi không có hợp đồng đại lý để cung cấp cho đoàn kiểm tra nên tôi muốn hỏi tôi có bị xử lý VPHC không, Viễn thông huyện có chịu trách nhiệm gì không và trường hợp tôi chứng minh được lỗi chậm trễ ký hợp đồng đại lý là do phía Viễn thông huyện thì họ bị xử lý như thế nào vì tôi tham khảo văn bản chỉ thấy quy định xử lý đại lý chứ không thấy xử lý doanh nghiệp chậm ký kết hợp đồng?

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP, Đại lý Internet phải có hợp đồng hợp đồng đại lý với nhà cung cấp dịch vụ. Bạn cần phải hoàn thành mọi thủ tục liên quan đến hợp đồng, điều kiện kinh doanh đại lý Internet trước khi bắt đầu công việc kinh doanh. Để hoàn thiện thủ tục về hợp đồng, bạn nên chủ động đến làm việc với Viễn thông huyện, đề nghị họ chuẩn bị hồ sơ chuyển lên Viễn thông tỉnh. Nếu viễn thông huyện không thực hiện thì bạn làm công văn gửi Viễn thông tỉnh, nêu rõ sự việc và đề nghị Viễn thông tỉnh hỗ trợ. Trong điều kiện cạnh tranh, Viễn thông tỉnh sẽ tạo điều kiện để bạn hoàn thành thủ tục.
Lưu ý: Trong trường hợp kinh doanh đại lý Internet không có hợp đồng đại lý, chủ điểm kinh doanh sẽ bị xử phạt từ 2 triệu đến 5 triệu đồng theo điểm b, khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2009/NĐ-CP. Hình thức xử phạt bổ xung: Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính theo khoản 3 Điều 9 Nghị định số 28/2009/NĐ-CP.
Chúc bạn kinh doanh thành công.

Độc giả: Bùi Thu Hương - TP Thái Nguyên
Kính gửi Ban biên tập Hỏi&đáp! Tôi muốn hỏi có những VBQPPL nào liên quan đến Đài truyền thanh - truyền hình các huyện, thành, thị trực thuộc tỉnh? Đài truyền thanh - truyền hình thành phố Thái Nguyên muốn đổi tên thành Đài Phát thanh - Truyền hình TP Thái Nguyên có được không? Nếu được thì thủ tục như thế nào? Trân trọng cảm ơn!

Xin chào bạn,

Bạn có thể xem các Văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực phát thanh, truyền hình tại trang Văn bản quy phạm pháp luật của website Bộ (lĩnh vực báo chí) tại đây: http://mic.gov.vn/VBQPPL/vn/index.mic

Còn vấn đề Đài bạn muốn đổi tên thì bạn phải hỏi cơ quan chủ quản của Đài bạn.

Độc giả: Lê Xuân Hải - Chuyên viên phòng CNTT - Sở TT&TT Bình Thuận
Thưa Bộ Thông tin và Truyền thông Thưc hiện chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT Về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước. Sở Thông tin và Truyền thông đã tổ chức tập huấn, triển khai sử dụng các phần mềm nguồn mở (PMNM) cho tất cả các Sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên sau thời gian triển khai sử dụng, phần mềm OpenOffice Writer có một số kiếm khuyết như sau: - Khởi động chậm, mặc dù máy có cấu hình tương đối cao( P 4, RAM 512). -Rất hạn chế trong việc sử dụng phím tắt. -Không ổn định trong định dạng File văn bản. -Khi in không có lựa chọn in trang chẵn lẻ như Microsoft Office. -Đánh trang không linh động như trong Microsoft Office. Kính đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông có giải pháp khắc phục các hạn chế trên, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện đầy đủ các tính năng của PMNM OpenOffice. Trân trọng kính chào.
Chào bạn Lê Xuân Hải, cám ơn bạn đã có câu hỏi khá cụ thể về 1 phần mềm trong Bộ phần mềm văn phòng nguồn mở OpenOffice. PMNM có ưu điểm rất lớn là được hỗ trợ bởi cộng đồng, vì vậy khi người sử dụng gặp bất cứ khó khăn gì thì có thể hỏi ý kiến của các chuyên gia thông qua các diễn đàn về PMNM. Hiện tại, tài liệu hướng dẫn sử dụng về phần mềm OpenOffice có khá nhiều trên thị trường.
Bộ phần mềm văn phòng nguồn mở OpenOffice đã được các chuyên gia CNTT đánh giá là đáp ứng được các yêu cầu sử dụng trong các cơ quan nhà nước. Đương nhiên, người sử dụng tại Việt Nam đã quá quen sử dụng Microsoft Office nên việc chuyển sang sử dụng OpenOffice sẽ có những khó khăn nhất định.
Đối với câu hỏi của bạn, xin trả lời như sau:
- Về việc khởi động chậm, do bạn không nói rõ việc khởi động OpenOffice là chậm so với phần mềm gì? Và do không rõ hiện trạng máy tính của bạn nên do đó chúng tôi không thể trả lời rõ được. tuy nhiên, việc khởi động OpenOffice thường không quá chậm như bạn đề cập và hầu như không ảnh hưởng quá nhiều đến hiệu quả công việc.
- Về sử dụng phím tắt: Bạn vào Tools-->Customize-->Keyboard, sau đó bạn có thể tùy chọn thiết đặt phím tắt theo sở thích (đương nhiên khi bạn đã quá quen sử dụng Microsoft Office thì việc sử dụng phím tắt trong Open Office không tránh khỏi những khó khăn ban đầu)
- Về định dạng văn bản: định dạng văn bản của Open Office rất ổn định và tuân thủ tiêu chuẩn mở nên việc trao đổi thông tin đảm bảo.
- Về đánh số trang: Để đánh số trang bạn làm như sau: Chọn Insert-->Fields-->Page Number, sau đó căn lề trái phải hoặc giữa là xong. Bạn phải bật Footer on hoặc Header on (Format-->Page …)và đánh số trang vào trong phần này.

- Về việc in trang chẵn lẻ: bạn thực hiện theo các bước sau:
Bạn chọn File-->Print…


<br>Màn hình Print hiện ra, bạn chọn tiếp Option
 
Bạn chọn hoặc Left hoặc Right để in trang trái hoặc trang phải (chẵn hoặc lẻ)


Độc giả: trương quang khải - ...
Hiện nay tôi đang có dự định làm 1 tạp chí (magazine) dạng online. Vậy tôi có cần xin giấy phép của Bộ hay ko? Và nếu có thì tôi phải xin ở đâu, mức phí là bao nhiêu?
Bạn có thể tham khảo thông tin trên website Bộ tại địa chỉ http://mic.gov.vn/vn/proceduredetail/ptthtttt_cucql/9818/index.mic về cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp. Để có thông tin cụ thể hơn, bạn có thể liên hệ với Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử tại địa chỉ: 50 Triệu Việt Vương - Hà Nội. Điện thoại: 04.39448035, Fax: 04.39448036. Email: vanthucucqlptth@mic.gov.vn 
Độc giả: nguyen thi thu Huong - 164 Phuong Liet, Thanh Xuan-Hanoi
công ty tôi có chuẩn bị nhập hệ thống máy kiểm nghiệm sản phẩm trong phòng thí nghiệm. trong hệ thống này có các thiết bị như: màn hình, CPU, chuột, bàn phím. Theo quyết định số 11/2007/QĐ-BBCVT thì phải được Bộ BCVT xác nhận là sản phẩm hay hệ thống công nghệ thông tin chuyên dụng. Vậy tôi xin hỏi thủ tục để làm giấy xác nhận này như thế nào?
Xin chào bạn, bạn tham khảo thông tin tại đây http://mic.gov.vn/ViewCategoryLevel.aspx về thủ tục chứng nhận hợp quy với sản phẩm chuyên ngành
Độc giả: Ngọc Hạnh - Đài Phát Thanh-Truyền hình Đồng Tháp
Cả nước hiện có tổng số bao nhiêu cơ quan báo chí (gồm bao nhiêu báo in, báo hình, báo điện tử..) Xin cho con biết số mới nhất, gần đây nhất. Cảm ơn nhiều
Xin chào bạn, bạn có thể tham khảo thông tin trên website Bộ tại địa chỉ http://mic.gov.vn/vn/coquanbaochixuatban/index.mic. Số liệu này được cập nhật đến tháng 5/2009
Độc giả: Nguyễn Tiến Đạt - Đồng Văn Duy Tiên Hà Nam
Tôi là : Nguyễn Tiến Đạt. Tôi xin được trình bầy sự thể như sau: Tôi là chủ nhân của SĐT: 0988035618 đã bị công ty viễn thông Viettel thu hồi nhưng không đúng quy định mà công ty đã đề ra (sau 30 ngày kể từ ngày bị khóa hai chiều). Thêu bao của tôi bị khóa hai chiều ngày 10/06/2009. Ngày 01/07/2009 khi tôi kiểm tra thuê bao của mình thì đã ở tình trạng bị thu hồi. Khi đó tôi đã gọi tới trung tâm chăm sóc khách hàng của công ty viễn thông Viettel để được giải thích về vấn đề trên (tôi được giải thích lý do bị thu hồi là do hệ thống máy móc không chính xác) và tôi đã được trả lại số thêu bao của mình ngày 03/07/2009. Nhưng tôi không được hoàn trả lại số tiền có trong tài khoản của sim và tôi đã nhiều lần đề nghị công ty xem xét lại vấn đề trên nhưng không được, (tôi được giải thích là do đã sử dụng hết tiền trong tài khoản của sim: còn 0 đồng). Về ngày bắt đầu sử dụng thuê bao của cũng không giống như thực tế vốn có mà đã chuyển thành ngày 03/07/2009 tính đế thời điểm này (23h 10 phút ngày 07/07/2009). Tôi viết thư này kính mong cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết sự việc tôi đã trình bầy ở trên. Tôi xin chân thành cảm ơn. Nguyễn Tiến Đạt

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Về việc này, đề nghị anh Nguyễn Tiến Đạt (chủ thuê bao số 0988035618) khiếu nại bằng văn bản được đồng thời gửi đến:
- Chi nhánh Viettel tỉnh Hà Nam;
- Tập đoàn Viễn thông Viettel – Số 2 Giang Văn Minh – Hà Nội;
- Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Hà Nam
Nội dung văn bản thông tin đầy đủ nội dung đã nêu trong E-mail này và kiến nghị được giải quyết.
Chúc anh mạnh khỏe và sớm được trả lời thỏa đáng.

Độc giả: Nguyễn Hoàng Đoan -
Hiện tại tôi đang công tác tại Phòng thí nghiệm an ninh thông tin (ISeLAB) - Khu Công nghệ phần mềm-ĐHQG-HCM. Sắp tới ban Giám đốc quyết định thành lập mới doanh nghiệp cổ phần khoa học & công nghệ về lĩnh vực An ninh thông tin dựa trên ISeLAB theo NĐ 80/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên chúng tôi gặp khó khăn khi lĩnh vực "an ninh, an toàn và bảo mật thông tin" mà chúng tôi định đăng ký kinh doanh không có trong hệ thống mã ngành kinh tế của Việt Nam. Tôi nghĩ đây là lĩnh vực do Bộ quản lý, vậy không biết theo Bộ thì chúng tôi đăng ký như thế nào là hợp lý. Các văn bản pháp lý về lĩnh vực này cũng còn rất ít hiện tại theo tôi biết chỉ có luật CNTT 2005, một số Nghị định và Thông tư như 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA, ... Không biết Bộ có thể liệt kê các văn bản pháp lý về đảm bảo an ninh thông tin trong CNTT không? Chúng tôi đang tập hợp chúng lại, nhưng rất khó.

Trung tâm Ứng cứu Khẩn cấp máy tính Việt Nam trả lời:

Về lĩnh vực đảm bảo an toàn thông tin, ngoài luật công nghệ thông tin thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA các anh có thể tham khảo thêm các văn bản sau:

Luật viễn thông; Luật giao dịch điện tử;

Nghị định 64/2007/NĐ-CP của chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước và các hướng dẫn thi hành;

Nghị định 102/2009/NĐ-CP của chính phủ về Về Quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước;

Nghị định số 90/2008/NĐ-CP  của chính phủ về chống thư rác và các hướng dẫn thi hành nghị định;

Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và các hướng dẫn thi hành;

Chỉ thị 03/2007/CT-BBCVT của bộ Bưu chính Viễn thông ngày 23 tháng 02 năm 2007 về việc tăng cường đảm bảo an ninh thông tin trên mạng Internet.

Nghị định số 63/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Độc giả: lê trọng quỳnh - 261 Hải Phòng - Đà Nẵng
Tôi muốn xin cấp giấy phép hoat động của website, công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực taxi, truyền hình cáp, xây dựng, và nội dung website chúng tôi cũng thể hiện nội dung các lĩnh vực hoạt động trên. Quý bộ có thể cho tôi biết các giấy tờ cần thiết để hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động website được không? Trong thời gian chờ sự tư vân giúp đỡ của quý Bộ tôi xin chân thành cảm ơn.

Xin chào bạn Lê Trọng Quỳnh,

Bạn có thể tìm thấy nội dung bạn hỏi trên rất nhiều câu hỏi đã được trả lời trong chuyên mục này như : 77 - Độc giả: Nguyễn Thành Đô, 160 - Độc giả: Thi Quý Phú - Số 10 Đường 3 tháng 4 - P.3 - TP Đà Lạt... hoặc Bạn có thể tham khảo thủ tục cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp tại trang Thủ tục hành chính trên website Bộ tại địa chỉ http://mic.gov.vn/vn/procedurecategory/ptthtttt_cucql/index.mic
Ban biên tập

Độc giả: Nguyen Duc Trong - 22/18 Nguyen Dinh Chieu - Quan Hai Ba Trung - Ha Noi
Tôi có một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm và học tập về lĩnh vực âm nhạc để giúp những người yêu nhạc có thể trao đổi và học tập lẫn nhau. Tôi muốn hỏi: 1 - Những bài viết của member trong diễn đàn post sẽ thuộc quyền sở hữu của ai ? Ban quản trị của diễn đàn có quyền giữ lại bài viết của member hay không nếu member muốn xóa bỏ bài viết của họ.Vì là một diễn đàn nên việc xóa đi một bài viết sẽ làm cho cuộc trao đổi của chủ đề toppic không liền mạch. 2- Muốn tìm hiểu luật sở hữu trí tuệ và văn bản pháp luật về mạng internet thì tôi phải tìm ở đâu ? Rất mong nhận được câu trả lời từ Bộ thông tin và truyền thông ! Tôi xin trân thành cảm ơn !

Xin chào bạn Đức Trọng,

 

Bạn có thể tham khảo câu trả lời cho câu hỏi có nội dung tương tự câu hỏi của bạn  (36 - Độc giả: Dương Đặng Hoàng Yến - 49 Lê Trung Nghĩa, P.12, Q. Tân Bình, Tp. HCM).

 

Trân trọng,

Ban biên tập
Độc giả: 2401_ - Bình Giang - Hải Dương
Xin chào http://mic.gov.vn/gopy/ ! Tôi xin có vài thắc mắc như sau kính xin được giải đáp: 1. Tôi có đăng ký làm đại lý internet và đã tìm hiểu thông tư Số: 02 /2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT. Trong đó có quy định đại lý được phép kinh doanh từ 6 đến 24 giờ hàng ngày, nhưng theo hướng dẫn của UBND cấp xã quy định tôi chỉ được kinh doanh đến 22h hàng ngày. Vậy tôi xin hỏi quy định đó của UBND xã có đúng và họ có cần phải thông báo với tôi không? 2. Trong thông tư 02 trên quy định người quản lý đại lý internet phải có bằng tin học loại A trở lên, nhưng tôi là cử nhân Tin học (cao đẳng chính quy) thì có cần phải có bằng tin học loại A không? 3. Cụm từ "Cơ quan nhà nước có thẩm quyền" trong thông tư 02 trên bao gồm cụ thể những cơ quan nào?(Từ cấp thôn, xã...) Kính xin quý cơ quan giải đáp sớm giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xin chào bạn Bình Giang,

Bạn có thể tham khảo câu trả lời  (9- Độc giả: Trần phúc minh - Huyện châu đức) về một số nội dung liên quan đến câu hỏi của bạn. Những văn bản bạn cần nghiên cứu kỹ đã được đưa trên website Bộ Thông tin và Truyền thông. Địa chỉ bạn có thể tham khảo:

+ Nghị định 97/2008/NĐ-CP

+ Nghị định 28/2009/NĐ-CP

+ Thông tư số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA

 

Ban biên tập

Độc giả: Đặng Trần Hưng - Thanh Sơn - Phú Thọ
Cho em hỏi? Trước em dùng số điện thoại của Điện Lực(Em dùng thuê bao) sau đó do sóng chập trờn nên em đến chi nhánh báo cắt, và em cho bạn máy đó, một thời gian sau có nhân viên vẫn đến thu tiền em, em bảo báo cắt rồi thế mà vẫn cứ đòi tiền em. Vậy vấn đề này được giải quyết như thế nào khi mà em đã báo cắt rồi. Em xin trân thành cảm ơn

Xin chào bạn Trần Hưng,

 

Bạn có thể liên hệ cung cấp thông tin tới Viễn thông điện lực, nếu không thỏa mãn bạn có thể liên hệ với Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông để làm việc chi tiết.

http://mic.gov.vn/vn/newintrodetail/cacdonvithammuu/4631/index.mic

 

Trân trọng,

Ban biên tập
Độc giả: Đỗ Hữu Hoàn - 48 Vạn Bảo - Ba Đình - Hà Nội
Theo quy định của quý Bộ, để được cấp hợp quy của Trung tâm chứng nhận, Cục quản lý chất lượng Công nghệ Thông tin và Truyền Thông, thì các thiết bị đầu cuối modem ADSL phải có kết quả đo kiểm về an toàn điện theo tiêu chuẩn tại các thiết bị đầu cuối modem ADSL phải được chứng nhận kết quả an toàn điện, cụ thể là phải có kết quả đo theo tiêu chuẩn TCN 68-190: 2003. Theo quyết định số 80/QD-QLCL của Cục quản lý chất lượng Công nghệ Thông tin và Truyền Thông, kết quả đo kiểm của các đơn vị đo kiểm có đủ thẩm quyền quy định tại khoản 1 và 3 điều 5 của Thông tư 06/2009/TT-BTTTT. Nhưng theo thông tư 06 này thì các đơn vị đo kiểm được thừa nhận đều là các đơn vị ở nước ngoài. Còn các đơn vị được chỉ định tại Việt Nam đều không có đủ tư cách pháp lý để cấp kết quả đo kiểm cho tiêu chuẩn TCN 68-190: 2003. Theo thông tư hướng dẫn của Bộ thì các đơn vị được chỉ định đo hiện tại tại Việt Nam có các tiêu chuẩn khác được công nhận nhưng không được công nhận kết quả đo theo tiêu chuẩn TCN 68-190: 2003 này. Cụ thể chúng tôi đã có kết quả đo của Phòng thử nghiệm Quốc gia Tin học Bưu chính Viễn thông (VILAS 007) - Trung tâm Đo lường - Viện Khoa học Kỹ thuật cho tiêu chuẩn TCN 68-190: 2003 nhưng Trung tâm chứng nhận, Cục quản lý chất lượng Công nghệ Thông tin và Truyền Thông không công nhận kết quả này.

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
Để đo kiểm thiết bị theo TCN 68-190: 2003 - Thiết bị đầu cuối viễn thông - Yêu cầu an toàn điện, bạn có thể liên hệ với các phòng đo trong nước đã được Bộ chỉ định gồm:
- Trung tâm Kỹ thuật - Cục Tần số vô tuyến điện
Địa chỉ: 115 Trần Duy Hưng – Hà Nội
Điện thoại: 04.35564919
- Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 - Quatest3
Trụ sở chính: số 49 Pasteur Quận 1 – Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.382.94274.

Độc giả: Phạm Lương Kiên - Hà Tĩnh
Hiện nay theo NĐ97/CP khi thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải được Bộ TT&TT cấp phép. Xin hỏi Bộ nếu chưa được cấp phép thì có được chạy thử nghiệm trang thông tin điện tử tổng hợp trên Internet không?

Chào bạn Phạm Lương Kiên,

Đề nghị bạn nghiên cứu kỹ Nghị định 97/2008/NĐ-CP xem trong Nghị định có cho phép bạn chạy thử nghiệm trên mạng Internet không?, nếu trong đó không cho phép mà bạn lại chạy thử nghiệm thì tức là bạn vi phạm Nghị định 97.
Chúc bạn vui,

Ban Biên tập

Độc giả: Lâm Hữu Tây - 225 Bến Chương Dương q1, Tp.HCM
Xin quý cơ quan cho tôi biết theo Thông tư 08/2009/TT-BTTT ngày 24/03/2009, ban hành "danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải công bố hợp quy". Công ty chúng tôi có nhập mượn 1 lô hàng thiết bị tường lửa, nằm trong danh mục này của thông tư 08/2009/TT-BTTT, nhưng Công ty chúng tôi chỉ tạm nhập tái xuất để trưng bày, hội nghị, hội thảo trong công ty, không mua bán ra thị trường. Vậy chúng tôi có cần phải công bố hợp quy cho lô hàng này không? Vì theo thông tư 06/2009/TT-BTTTT, khoản 2 điều 7 : "sản phẩm nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước để trưng bày, triển lãm theo quy định của pháp luật hoặc làm mẫu cho việc đo kiểm sản phẩm phục vụ chứng nhận hơp quy" thì không cần phải chứng nhận hợp quy. Mong quý cơ quan có câu trả lời chính xác và nhanh nhất để giúp công ty chúng tôi hoàn thành thủ tục hải quan cho lô hàng. Tôi xin chân thành cảm ơn va trân trọng kính chào.
Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
Trường hợp của quý công ty không bắt buộc phải công bố hợp quy
Độc giả: Xuân Tùng - Hà Nội
Xin hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông từ trước đến nay đã có văn bản nào quy định chi tiết việc đảm bảo an toàn, an ninh cho Trang thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước chưa? Nếu đã có xin cho tôi được biết số, ký hiệu của văn bản. Xin trân trọng cảm ơn

Xin chào bạn Tùng,
Bạn có thể tra cứu các văn bản này trong mục Văn bản quy phạm pháp luật trên website Bộ Thông tin và Truyền thông và văn bản liên quan.
Xin cung cấp tới bạn nội dung: Tiêu chuẩn ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước:
http://news.mic.gov.vn/details.asp?Object=7557453&news_ID=7559160
Còn rất nhiều văn bản khác, bạn có thể tự tìm hiểu.
Chúc bạn thành công
Trân trọng
BBT

Độc giả: Phạm Đăng Tùng - Huyện Thuận An, Bình Dương
* Bộ hãy có văn bản vào việc an toàn dữ liệu và phòng chống virus cho cơ quan đảng, chính quyền và khối đoàn thể để trách việc lan truyền virus từ cơ quan nhà nước. Ví dụ : Trang web quận 10, thành phố Hồ Chí Minh là một trang web chứa rất nhiều và google đã cảnh báo trang web chứa mã độc. Người dân tìm kiếm và tra cứu hồ sơ trên trang web này thì bị nhiễm virus ngay lập tức. * Muốn phát triển CNTT trong quản lý nhà nước thì nên điều chỉnh mức độ 2 của trang web lại cho phù hợp. Mức độ 2 hiện tại chỉ cho download biểu mẫu. Theo thực tế việc từ mức độ 2 lên mức độ 3 là rất khó, cho nên điều chỉnh mức độ 2 lên thành hướng dẫn nhập lthông tin cho biểu mẫu và in biểu mẫu đã nhập. Khi đó chuyển mức độ 3 dễ dàng hơn vì người dân đã quen với biểu mẫu. * Cần trang web để trao đổi cho các chuyên viên tin học từ trung ương đến các huyện thị để trao đổi định hướng các phần mềm trong quản lý nhà nước. ví dụ như Quản lý dự án, quản lý văn bản, quản lý nhân khầu(khai sinh, khai tử),...

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) xin trả lời về quy trình thông báo cho cơ quan chủ quản và cho VNCERT về mã độc:

Khi phát hiện mã độc, cá nhân hoặc tổ chức cần thực hiện các bước như sau: 1. Thu thập các bằng chứng website có chứa mã độc: chụp màn hình, lưu file mã độc...; 2. Gửi email tới đơn vị chủ quản website và VNCERT, kèm theo các thông tin thu thập được, hoặc mô tả cách thức phát hiện mã độc; 3. Trung tâm VNCERT sẽ tiếp tục liên hệ với đơn vị chủ quản của website để xử lý.

Cục Ứng dụng CNTT trả lời bạn 2 ý:

+ Khi xây dựng quy định về các mức độ của dịch vụ công trực tuyến, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến của một số nước phát triển và đang phát triển trên thế giới để đưa ra quy định phù hợp và khả thi trong điều kiện ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam, đặc biệt là trong các cơ quan nhà nước và đảm bảo gắn kết việc ứng dụng công nghệ thông tin với các chương trình cải cách hành chính của Nhà nước. Tiếp thu ý kiến của bạn, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng các văn bản quy định, hướng dẫn chi tiết hơn trong việc cung cấp biểu mẫu, xây dựng dịch vụ công trực tuyến ở các mức để giúp người dân ngày càng thuận lợi trong việc khai thác, sử dụng các dịch vụ công trực tuyến.

+ Ý tưởng của bạn về một trang Web để trao đổi giữa chuyên viên tin học của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương về định hướng các phần mềm trong quản lý nhà nước là rất hay. Với vai trò quản lý nhà nước, trong phạm vi thẩm quyền, Bộ Thông tin và Truyền thông đã và đang nghiên cứu xây dựng ban hành các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, văn bản hướng dẫn về chức năng, tính năng kỹ thuật,... đối từng hệ thống thông tin để đảm bảo tính liên hợp giữa hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước. Việc ban hành các văn bản quy định này này cũng nhằm tạo sự chủ động cho các cơ quan nhà nước trong việc lựa chọn sản phẩm, nhà cung cấp, cũng như đảm bảo tính công bằng đối với tất cả các công ty, tổ chức trong việc cung cấp giải pháp, sản phẩm, dịch vụ CNTT.


 

Độc giả: Dai hai thuy - 199 Nguyễn Lương Bằng- tp Hải Dương
Trong Thông tư số 08/2008/TT-BTTT ngày 23/12/2008 của Bộ TTTT hướng dẫn 1 số điều của Nghị định số 128/2007/NĐ- CP ngày 02/8/2007 của Thủ tướng chính phủ về dịch vụ chuyển phát có quy định: * Địa điểm tiếp nhận hồ sơ thông báo hoạt động chuyển phát: - Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Đối với hồ sơ thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong phạm vi nội tỉnh. - Bộ Thông tin và Truyền thông, 18 Nguyễn Du, Hà Nội: Đối với hồ sơ thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong phạm vi liên tỉnh, trong nước hoặc quốc tế. *Địa điểm tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp phép dịch vụ chuyển phát thư: - Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Đối với hồ sơ đề nghị cấp phép trong phạm vi nội tỉnh. - Bộ Thông tin và Truyền thông, 18 Nguyễn Du, Hà Nội: Đối với hồ sơ đề nghị cấp phép trong phạm vi liên tỉnh, trong nước hoặc quốc tế. Vậy tôi muốn hỏi, nếu 1 doanh nghiệp chuyển phát, doanh nghiệp chuyển phát thư kinh doanh cả trong phạm vi nội tỉnh (nhậntừ huyện này trong tỉnh và phát ở huyện khác trong tỉnh) và chuyển phát cả liên tỉnh thì ngoài việc nộp hồ sơn xin giấy phép hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư liên tỉnh,văn bản xác nhận thông báo hoạt động chuyển phát liên tỉnh của Bộ thì có cần xin giấy phép của Sở TTTT trong phạm vi nội tỉnh nữa không? Xin Vụ Bưu chính giải đáp kỹ cho tôi vấn đề này

Vụ Bưu chính - Bộ Thông tin và Truyền thông xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Xin chào bạn,

Khi doanh nghiệp thực hiện thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát/xin cấp phép chuyển phát thư trong phạm vi liên tỉnh, trong nước (do Bộ TTTT tiếp nhận, xử lý) thì không cần thực hiện các thủ tục thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát/xin cấp phép trong phạm vi nội tỉnh (do Sở TTTT tiếp nhận, xử lý). Tuy nhiên, sau khi được xác nhận thông báo/được cấp phép thì doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Sở TTTT trên địa bàn biết về việc đã được xác nhận thông báo/được cấp phép và các địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn để Sở biết và quản lý.

Trân trọng.

Độc giả: Nguyễn Lê Lương - 223 Bis Hai Bà Trưng - Q.3 - Tp. HCM
Công ty Nguyễn Thế Giới Đồ Chơi chúng tôi chuyên nhập khẩu thiết bị Điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến dùng cho đồ chơi mô hình điều khiển từ xa. Trước đây khi nhập thiết bị này vào Việt Nam chúng tôi đều thực hiện đúng quy định về nhập khẩu: đo kiểm thiết bị và hợp chuẩn theo tần số cho phép của thiết bị(từ tần số 27MHz đến 72MHz). Nhưng đến thời điểm hiện nay, với đà phát triển của công nghệ thu phát tần số 2,4GHz trên thị trường thế giới. Các hãng sản xuất thiết bị Điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến dùng cho đồ chơi mô hình hiện nay đã chuyển qua chỉ sản xuất cho thiết bị thu phát sử dụng tần số 2,4GHz. Chúng tôi không nhập được các thiết bị này về VN phục vụ cho nhu cầu của người chơi mô hình điều khiển. Chúng tôi xin hỏi Bộ Thông Tin và Truyền Thông có thể sửa đổi các quy định hoặc luật để chúng tôi có thể nhập khẩu các thiết bị Điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến sử dụng tần số 2,4GHz về kinh doanh được không? Kính mong sự phúc đáp của Quý Bộ và các cơ quan liên quan.

Cục Tần số vô tuyến điện xin trả lời:
Loại thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến dành cho đồ chơi, mô hình điều khiển từ xa thường thuộc loại thiết bị vô tuyến điện cự ly ngắn và công suất thấp.
Thông tư 36/2009/TT-BTTTT ngày 03/12/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra các quy định về điều kiện kỹ thuật và khai thác cụ thể đối với loại thiết bị vô tuyến điện này trong Phụ lục 7 (Thiết bị điều khiển từ xa vô tuyến điện) và Phụ lục 1 (mục Các loại thiết bị, ứng dụng khác). Theo đó, thiết bị điều khiển từ xa vô tuyến được sử dụng (có điều kiện) trong các băng tần sau:
Băng tần 115 ÷ 150 kHz; 26,957 ÷  27,283 MHz (băng tần 27 MHz); 29,7 ÷ 30,0 MHz;  34,995 ÷ 35,225 MHz;  40.66-40.7 MHz; 312 ÷ 316 MHz; 433,05 ÷ 434,79 MHz
Băng tần 50,01 ÷ 50,99 MHz; 72,00 ÷ 72,99 MHz (dành riêng cho thiết bị điều khiển máy bay mô hình)
Băng tần 13,553 ÷ 13,567 MHz; 2400 ÷ 2483,5 MHz (băng tần 2,4 GHz); 24 ÷ 24,25 GHz.
Nội dung chi tiết của Thông tư 36/2009/TT-BTTTT hiện có tại địa chỉ sau:
http://www.rfd.gov.vn/Danh+sach+Van+ban+quy+pham/Thong_tu1

Độc giả: Lâm Thế Nhân - 38/27F, Nguyễn Trãi, P.4, Q.5
Hiện tại công ty chúng tôi muốn cung cấp dịch vụ "Điện thoại Internet" - VoIP, cụ thể như sau: - Chỉ sử dụng trong phạm vi Việt Nam. - Không cung cấp chiều gọi đi quốc tế. - Dành cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức muốn liên lạc với nhau thông qua Internet miễn phí. Vậy chúng tôi cần phải có những điều kiện gì để xin "Giấy phép" và các thủ tục ra sao. Kính nhờ cơ quan chức năng hướng dẫn. Xin chân thành cảm ơn và mong sớm nhận được thông tin từ Quý Ban ngành. Trân trọng!

Vụ Viễn thông xin trả lời:
1. Pháp luật hiện hành chỉ cho phép doanh nghịêp được cung cấp dịch vụ điện thoại Internet loại hình PC-to-PC trong nước và quốc tế và PC-to-Phone chiều đi quốc tế. Vì vậy, công ty bạn nếu chỉ muốn cung cấp dịch vụ cho người sử dụng trong phạm vi Việt Nam và không cung cấp chiều gọi đi quốc tế, có nghĩa là công ty của bạn chỉ được cung cấp dịch vụ điện thoại Internet loại hình PC-to-PC trong nước.
2. Để được cung cấp các dịch vụ điện thoại Internet nêu trên, công ty bạn cần phải tiến hành các thủ tục xin cấp giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông (loại hình dịch vụ điện thoại Internet) . Điều kiện cấp phép và thủ tục cấp phép tuân theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và Điều 41, Điều 39 Nghị định số 160/204/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại Internet ngoài quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải có thêm các trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Thông tư 05/2008/TT-BTTTT ngày 12/11/2008 hướng dẫn Nghị định 97/2008/NĐ-CP.

 

Độc giả: Đặng Quang Vinh - 89 Nguyễn An Ninh, tp Pleiku
Tôi muốn thành lập công ty kinh doanh dịch vụ nội dung qua tin nhắn sms (như là 8x77, 8x66, .. ), thì thủ tục xin cấp đầu số và giấy phép như thế nào? Xin cảm ơn!

Xin chào bạn Đặng Quang Vinh
Bạn có thể tham khảo câu trả lời số  159 - Độc giả: Linh - 54 Thân Nhân Trung, F13, Q.TB có nội dung câu hỏi giống với câu hỏi của bạn.
Trân trọng
Ban biên tập

Độc giả: Ha Nguyen -
Cho Tôi hỏi, công ty tôi có chức năng hoạt động các ngành nghề: Dịch vụ xử lý dữ liệu; Dịch vụ lưu trữ dữ liệu; Dịch vụ khai thác cơ sở dữ liệu; dịch vụ truy nhập dữ liệu và thông tin trên mạng; Dịch vụ xử lý số liệu và thông tin trên mạng; dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử, vậy chúng tôi có cần phải xin giấy phép gì để hoạt động các ngành nghề nêu trên không?

Vụ Công nghệ thông tin trả lời:
Các ngành nghề hoạt động của công bạn như đã hỏi ở trên thuộc lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin. Hiện nay, thị trường dịch vụ công nghệ thông tin tại Việt Nam đang phát triển rất nhanh và tăng trưởng ở mức cao.
Theo các quy định hiện hành tại Luật công nghệ thông tin năm 2006 và Nghị định 71/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin, công ty của bạn chưa phải xin giấy phép để hoạt động các ngành nghề nêu trên. Tuy nhiên theo quy định của Luật doanh nghiệp và Luật thương mại thì công ty bạn phải xin giấy phép kinh doanh cho các ngành nghề hoạt động.
Để góp phần thúc đẩy phát triển dịch vụ công nghệ thông tin, trong kế hoạch năm 2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ đang xây dựng dự thảo “Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật công nghệ thông tin về dịch vụ công nghệ thông tin”. Trong dự thảo Nghị định này sẽ có phân loại chi tiết các loại hình dịch vụ công nghệ thông tin cũng như là quy định điều kiện kinh doanh đối với một số loại hình dịch vụ. Bạn lưu ý theo dõi trên Website của Bộ Thông tin và Truyền thông www.mic.gov.vn để góp ý kiến về dự thảo văn bản này.
Xin cảm ơn.

Độc giả: dương trí đức - Bạch Mai Hà Nội
KÍnh gửi Bộ thông tin và truyền thông! Tôi muốn được biết thông tin cụ thể trong lễ trao giải cuộc thi " thiết kế biểu trưng MIC ". ( hình ảnh của các biểu trưng, thông tin về tác giả ) Hiện giờ tôi mới được biết hình ảnh và thông tin về tác giả của biểu trưng được chọn.

Xin chào bạn Trí Đức,

Về vấn đề bạn hỏi, bạn có thể tham khảo các bài viết đã đăng trên website của Bộ dưới đây:

http://news.mic.gov.vn/print_preview.asp?news_ID=221130902

http://news.mic.gov.vn/details.asp?Object=211054830&news_ID=241264914

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: trần ngọc minh - Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ bắc giang
Hãy cho tôi biết những quy định cụ thể về hình thức, quy cách, kết cấu, nội dung và số lượng trang nói chung của một "bản tin".

Cục báo chí xin trả lời bạn như sau:

Những vấn đề mà Anh hỏi đã được quy định cụ thể và đầy đủ tại Quy chế xuất bản bản tin ban hành kèm theo Quyết định số 53/2003/QĐ-BVHTT ngày 04/9/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin, anh có thể tìm hiểu tại văn bản này.

Trân trọng.

Độc giả: Tran Hoang Anh - CHLB Duc
Tôi là người Việt, hiện đang định cư tại CHLB Đức. Trước năn 2002, thân nhân của tôi tại Việt Nam nhận đầy đủ thư, bưu ảnh... từ năm 2002 đến nay không nhận được nữa (địa chỉ không thay đổi) tuy nhiên nếu gửi thưu bảo đảm thì thân nhân của tôi vẫn nhận được. Xin cho biết, tôi phải hỏi, hay làm gì, ở đâu để thân nhân của tôi tại Việt Nam tiếp tục nhanạ được thư qua bưu điện như trước năm 2002? Tôi xin được cảm ơn trước.

Xin chào bạn Trần Hoàng Anh,

 

- Bạn liên hệ với Bưu điện địa phương của nơi gửi và nơi nhận để được giải đáp.

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Trần Quang Huy - Nam Định
Theo Khoản 14 Điều 3 NĐ 97/2008/NĐ-CP về Trang thông tin điên tử quy định dịch vụ mạng xã hội trực tuyến. Vậy 1 website chỉ có mục Hỗ trợ trực tuyến (chat yahoo) thì có bị coi là dịch vụ mạng xã hội trực tuyến k? Xin cảm ơn!

Xin chào bạn Quang Huy,

Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi số 12, 162 ....

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Hoàng thị kim bảo - 15 Nơ Trang Long-Tp.Buôn Ma Thuột
Tôi là chuyên viên của phòng Báo chí -Xuất bản tại Đắk Lắk. Trước kia tôi đã từng công tác tại một tạp chí ở Hồ Chí Minh. Hiện nay văn phòng tạp chí này muốn tôi làm phóng viên thường trú tại Đắk Lắk để cộng tác tin bài kịp thời. Vậy nếu tôi làm song song hai việc này có vi phạm quy định của pháp luật không?Mong được hồi âm giải đáp. Xin chân thân thành cám ơn.

Cục báo chí xin trả lời bạn như sau:

Theo quy định tại Thông tư số 13/2008/TT-BTTTT ngày 31/12/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông thì phóng viên thường trú (thuộc cơ quan đại diện hoặc hoạt động độc lập) phải là người trong biên chế chính thức chính thức của cơ quan báo chí hoặc được cơ quan báo chí ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của Bộ luật Lao động, đã được cấp Thẻ nhà báo tại cơ quan báo chí xin đặt cơ quan đại diện hoặc cử phóng viên thường trú….
 Do đó chị đang là chuyên viên của phòng Báo chí - Xuất bản, Sở Thông tin và Truyền thông thì không là phóng viên thường trú của cơ quan báo chí được.

Trân trọng.

Độc giả: Trần Quốc Thắng - Ấp 3 Ao Vuông, Xã Phú Long, Huyện Bình Đạii, Tỉnh Bến Tre
Cháu hôm nay gởi đến các cô chú về việc kinh doanh của các mạng thông tin liên lạc. Qua quá trình tìm hiểu, cháu thật sự bức xúc và lo lắng về tình hình không an toàn của các mạng viễn thông. Cháu nhận thấy việc bảo mật các thông tin của các cá nhân là rất cần thiết, cũng như các cuộc gọi. Do đó, đây là vấn đề nội bộ và là bí mật của nước Việt Nam. Qua đó, cháu thấy không nên lệ thuộc vào các công ty chuyên cung cấp tổng đài viên cho các mạng viễn thông. Tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra cho sau này, vì cuộc sống không tránh khỏi những sự đố kỵ, ganh ghét, xấu tính, lợi dụng, lừa gạt,..... Cháu thấy mạng viễn thông nào đã thành lập thì nên tự bản thân mạng viễn thông đó tự đào tạo và tuyển dụng từ A -> Z thì hơn, nhưng cũng phải lệ thuộc vào mạng lưới chung. Không nên thành lập các công ty không rõ nguồn gốc và bảo mật. Đây là vấn đề bí mật quốc gia, không thể đem ra trưng bày được. Trân trọng kính chào!!!

Trung tâm Ứng cứu Khẩn cấp máy tính Việt Nam trả lời:

Rất cảm ơn những chia sẻ góp ý của bạn về tình hình không an toàn  của các mạng thông tin liên lạc. Tuy nhiên, vấn đề bạn nêu liên quan đến việc kinh doanh của các mạng viễn thông, quản lý mạng viễn thông. Vấn đề bảo mật thông tin của các mạng thông tin liên lạc đã được nêu trong một số văn bản pháp luật như Luật Viễn thông, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Chỉ thị 03/2007/CT-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông ngày 23 tháng 02 năm 2007 về việc tăng cường đảm bảo an ninh thông tin trên mạng Internet, Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA…Hiện nay hệ thống pháp luật  đảm bảo an toàn thông tin đang còn rất thiếu và sẽ được cập nhật tiếp trong thời gian tới cùng với các thiết chế đảm bảo an toàn thông tin quốc gia, để có thể thực hiện được những điều như trong góp ý của bạn.

Độc giả: NGUYỄN THANH HUY - Lầu 3, tòa nhà HUD, 159 Điện Biên Phủ, P15, Q BT, HCM
Công ty chúng tôi dự định kinh doanh mặt hàng máy tính xách tay và máy tính để bàn nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài, xin quý cơ quan cho hỏi những mặt hàng trên khi nhập khẩu có những giấy phép và tiêu chuẩn bắt buộc nào không? Xin chân thành cám ơn!

Vụ Công nghệ thông tin xin trả lời:
Việc xuất  nhập khẩu các mặt hàng máy tính xách tay và máy tính để bàn nguyên chiếc cần phải tuân thủ theo các quy định pháp luật hiện hành về xuất nhập khẩu hàng hóa, ngoài ra không cần giấy phép nào của Bộ Thông tin và Truyền thông, Tuy nhiên:
- Đối với trường hợp các mặt hàng máy tính xách tay và máy tính để bàn nguyên chiếc là mới khi nhập khẩu vào Việt Nam phải công bố hợp quy theo Thông tư 08/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009.
- Đối với trường hợp các mặt hàng máy tính xách tay và máy tính để bàn đã qua sử dụng khi nhập khẩu và Việt Nam phải chịu sự điều chỉnh của Thông tư số 43/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 về việc Ban hành danh mục sản phẩm Công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu. Cụ thể:
+ Máy tính để bàn và các phụ kiện của máy tính để bà đã qua sử dụng (trừ màn hình dang LED, OLED) sẽ bị cấm nhập khẩu;
+ Máy tính xách tay đã qua sử dụng nếu có thời hạn không quá 3 năm kể từ ngày sản xuất đển ngày mở tờ khai hải quan sẽ được phép nhập khẩu.

Độc giả: Nguyễn Đình Hùng - Gia Lộc Hải Dương
Xin hỏi Bộ thông tin và truyên thông mang di động của Viettel trừ tiền vô nối đã được các báo, đài, người dân phản ánh Bộ đã giải quyết như thế nào?

Xin chào bạn Đình Hùng,

 

Bạn có thể liên hệ với Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông để làm việc chi tiết.

http://mic.gov.vn/vn/newintrodetail/cacdonvithammuu/4631/index.mic

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - 35 đường 30-4, phường 1, tp Vĩnh Long
Theo cá nhân tôi, năm 2008 Bộ TT&TT tổ chức trả lời trực tuyến cũng có nhiều hiệu quả, giải đáp được khá nhiều những thắc mắc, khó khăn của cơ sở, nhưng sao năm nay Bộ không còn tổ chức nữa? Nghị định 97 đã có hiệu lực, địa phương chúng tôi rất lúng túng trong việc xử lý vi phạm chơi game online gần trường học. Vì TTLT 60 chỉ căn cứ NĐ 55 và đến nay chưa có TT nào hướng dẫn điều chỉnh việc này. Vậy Bộ có ban hành thông tư nào điều chỉnh việc chơi game online không và hiện nay ở địa phương chúng tôi nên áp dụng văn bản nào phù hợp nhất. Rất mong nhận được trả lời của Bộ. Thân ái! (có thể trả lời qua email)

Xin chào bạn Tấn Dương,

 

Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi số 2, 5, 18, 38, 56, 71 ....

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Duy Thị Mến - Học viện báo chí và tuyên truyền
Tôi chưa hiểu rõ khái niệm về báo mạng điện tử. Tôi muốn biết, hiện nay nước ta có chính xác bao nhiêu tờ báo mạng điện tử được cấp giấy phép hoạt động. Và đó là những tờ nào. Có thể cho tôi biết về các giai đoạn phát triển của báo mạng điện tử ở nước ta được không

Chào bạn Mến,

Về vấn đề bạn hỏi, bạn có thể tìm kiếm tài liệu trên mạng Internet hoặc liên hệ tổng đài 1080 để được giải đáp.

Trân trọng,

Ban biên tập.

Độc giả: Nguyễn Ngọc Tân - Đảng ủy Khối DNCN TW tại Tp. HCM
Tôi đang xây dựng qui định về sử dụng mạng Internet trong cơ quan Đảng. Tôi cũng đã truy cập mạng và có được 1 số văn bản qui phạm pháp luật về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước, nhưng vẫn không tìm thấy văn bản hay qui định nào về quản lý, sử dụng mạng Internet trong cơ quan Đảng hay Nhà nước. Xin cho tôi biết tôi có thể truy tìm những văn bản hướng dẫn này ở đâu?

Có rất nhiều thông tin liên quan đến lĩnh vực này. Bạn có thể tham khảo: Quyết định số 15-QÐ/CNTT ngày 27-2-1999 của Trưởng Ban Chỉ đạo công nghệ thông tin của cơ quan Ðảng, các văn bản quy định liên quan đến Internet trên trang Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bạn có thể tham khảo trên mạng hoặc liên hệ với http://www.cpv.org.vn/cpv/ để được giải đáp.
Trân trọng,
BBT

Độc giả: Lê Vũ Minh Đăng - Đường số 6, P.8, Q. 11, Tp.HCM
Kính gửi cơ quan chức năng của Bộ TT & TT. Tôi đọc qua nghị định 28/2009/NĐ-CP, trong đó Điều 19 nói về vi phạm các quy định về cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến. Tuy nhiên tôi không rõ mạng xã hội trực tuyến được định nghĩa như thế nào? Theo tôi hiểu mạng xã hội trực tuyến bao gồm các website về giao lưu kết bạn, forum, blog, chat...Hiện tại công ty tôi có một website về dịch vụ tuyển dụng và tư vấn giải pháp nhân sự (online), thì không biết website này có thuộc vào loại mạng xã hội trực tuyến hay không? Nhờ trả lời cho tôi hai câu hỏi trên để tôi biết rõ và thực hiện theo đúng quy định của nhà nước ban hành. Chân thành cám ơn. (07/05/09)

Xin chào bạn Đăng,

Thông tin về mạng trực tuyến đề nghị bạn tham khảo Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày  28/8/2008 của Chính phủ.  Tại điều 11 có quy định về Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến cho công cộng.

Bạn có thể đọc kỹ Nghị định này để biết các thông tin liên quan.

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Thi Quý Phú - Số 10 Đường 3 tháng 4 - P.3 - TP Đà Lạt
Xin hỏi về cấp phép hoạt động trang Website. Hiện cơ quan tôi đang cho hoạt động trang web tại địa chỉ: http://www.dalatgis.vn. Với mục đích là cung cấp thông tin về quản lý hành chính nhà nước về lĩnh vực địa chính đến với người dân. Cơ quan tôi là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND TP Đà Lạt. Vây tôi xin hỏi Website của cơ quan tôi có cần xin cấp phép hoạt động hay không? Rất mong được sự giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn.

Xin chào Bạn Thi Quý Phú,
Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi : 2 - Độc giả: Bui Quang Dieu - Cầu Giấy - Hà Nội, số 5- Độc giả: nguyễn thị hồng nhung - 3/34/47 Xuân La - Tây Hồ - Hà Nội; số 12, 162 ....
Hoặc bạn có thể liên lạc với Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (50 Triệu Việt Vương, Hà Nội, số điện thoại 04.39448034 máy lẻ 206, 208) để được hướng dẫn cụ thể.

Độc giả: Linh - 54 Thân Nhân Trung, F13, Q.TB
Tôi muốn hỏi thủ tục xin cấp đầu số nhắn tin (8xxx, 6xxx) tiến hành như thế nào, các bước thực hiện ra sao, chi phí và thời gian để có được một đầu số có kết nối hoàn chỉnh là bao lâu?

Vụ Viễn thông xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

 

Đây là các mã số nhắn tin dành cho các doanh nghiệp cung cấp nội dung thông tin qua tin nhắn trên mạng di động, hiện đang được sử dụng ở mức tín hiệu báo hiệu, do các doanh nghiệp di động cấp cho các doanh nghiệp cung cấp nội dung thông tin trên cơ sở hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên. Vì vậy, bạn cần liên hệ trực tiếp với các doanh nghiệp di động, đàm phán và ký kết hợp đồng kinh tế để sử dụng mã số nhắn tin này và cung cấp nội dung thông tin đến các thuê bao của mạng di động do Doanh nghiệp di động đang khai thác.

 

Để tăng cường phát triển công nghiệp nội dung số và điều chỉnh mối quan hệ giữa các doanh nghiệp di động và doanh nghiệp nội dung, Bộ Thông tin và Truyền thông đang dự kiến ban hành văn bản quy định về vấn đề này trong năm 2009. Sau khi văn bản được ban hành, các Doanh nghiệp di động và các Doanh nghiệp nội dung đều cùng phải tuân thủ và thực hiện theo quy định.

 

Trân trọng.

Độc giả: PHẠM DUY LINH - Lô A-2,3,4 Kcx Long binh, Tỉnh Đồng Nai
Công ty Yupoong chuyên sản xuất nón xuất khẩu, Cty có nhu cầu nhập về 1 hệ thống máy chủ đã qua sử dụng để chạy các ứng dụng quản lý doanh nghiệp (Quản lý kho nguyên vật liệu, thành phẩm, XNK, hàng mẫu ...) Cụ thể là máy IBM iSeries AS400 9406-825 server, HĐH 0s400 Theo Quyết định số: 11/2007/QĐ-BBCVT ngày 24 tháng 05 năm 2007, Hệ thống trên nằm trong danh mục đựơc nhập khẩu dạng đã qua sử dụng. Nhưng phải được Bộ Bưu chính Viễn thông xác nhận là sản phẩm/hệ thống thông tin chuyên dùng. Cho chúng tôi hỏi: 1. Công ty chúng tôi sẽ phải nộp thủ tục cho việc xác nhận là sản phẩm/hệ thống thông tin chuyên dùng ở đâu để thuận tiện nhất (Cty tại Tỉnh Đồng nai) 2. Thủ tục nộp đầy đủ gồm những gì? Trân trọng kính chào.

Vụ Công nghệ thông tin xin trả lời:
Ngày 30/12/2009, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 43/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 về Danh mục sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu  thay thế cho Quyết định số 20/2006/QĐ-BBCVT ngày 30/06/2006 và Quyết định số 11/2007/QĐ-BBCVT ngày 24/05/2007 sửa đổi, bổ sung Quyết định 20/2006/QĐ-BBCVT. Theo Thông tư này, sản phẩm máy chủ thuộc Danh mục sản phẩm CNTT  đã qua sử dụng cấm nhập khẩu. Tuy nhiên nếu là đây là sản phẩm công nghệ thông tin chuyên dùng được sử dụng để làm phương tiện sản xuất, điều khiển, vận hành, khai thác, kiểm tra hoạt động của một phần hoặc toàn bộ hệ thống, dây chuyền sản xuất trong các chuyên ngành cụ thể thì được phép nhập khẩu theo khoản đ, Điều 4 của Thông tư 43/2009/TT-BTTTT.  Mọi vướng mắc xin liên hệ về Vụ Công nghệ thông tin – Bộ Thông tin và Truyền thông 18 Nguyễn Du Hà Nôi. Điện thoại : 04 39437310; email:cntt@mic.gov.vn.
Về trường hợp của Công ty Yupoong, ngày 26/6/2009, Bộ Thông tin và Truyền thông nhận được Công văn số CN01.06 của Công ty TNHH Yupoong Việt Nam hỏi về những vấn đề trên. Ngày 15/7/2009 Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Công văn số 2171/BTTTT-CNTT trả lời chi tiết những vấn đề này.

Độc giả: Trần Minh Hoàng - Hải Dương
Xin hỏi trang tin điện tử của VN được bộ cấp phép họat động báo chí thì số lượng tin bài của trang tin đó tự biên tập là bao nhiêu? trang tin mà chỉ đi lấy và trích dẫn tin bài của các nguồn khác nhau thì có vi phạm quy chế gì ko? VD: trang Seatimes.vn có 100% tin là trích dẫn và theo các báo khác thì có bị thu hồi giấy phép hoạt động không?

Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử trả lời bạn như sau:

- Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định cụ thể về tỷ lệ tin bài do cơ quan báo chí tự biên tập và cung cấp trên cơ sở dẫn lại từ các cơ quan báo chí khác. Các cơ quan báo chí hoàn toàn chủ động về tỷ lệ tin bài theo đúng tôn chỉ, mục đích đã được quy định tại giấy phép hoạt động báo chí và các quy định khác về báo chí, bản quyền hiện hành.

Tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet, theo đó cho phép tổ chức, doanh nghiệp được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp và phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp. Khoản 13, Điều 3 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet cho phép các trang thông tin điện tử tổng hợp được cung cấp thông tin trên cơ sở dẫn lại từ hai nguồn chính thức là các cơ quan báo chí hoặc từ các trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng và Nhà nước và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bản quyền, báo chí xuất bản, công nghệ thông tin….

Trân trọng.

Độc giả: phạm thị thu hằng - thái bình
Em muốn hỏi về: thực trạng quản lý nhà nước đối với tin nhắn trên mạng viễn thông và các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với việc quản lý tin nhắn xin trả lời giúp em. Em xin chân thành cảm ơn

Chào bạn Hằng,

- Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi số 31, 74, 76 ....

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Trần Quốc Thành - Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Hiện nay một số tỉnh ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, tôi thấy có tỉnh ban hành theo thể thức văn bản cá biệt, có tỉnh ban hành theo thể thức văn bản pháp quy. Sau khi nghiên cứu một số quy định thì cá nhân tôi cho rằng loại văn bản này thuộc loại văn bản cá biệt, như vậy có đúng không? đề nghị cơ quan chuyên môn của Bộ TT&TT giúp tôi. Xin trân trọng cảm ơn!

Cục báo chí xin trả lời câu hỏi như sau:

Theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì căn cứ vào Quy chế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quy định cụ thể cho địa phương mình.
 Vì vậy nếu UBND tỉnh hướng dẫn chung cho các Sở, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện của địa phương mình trong việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (như cử người phát ngôn, chế độ cung cấp thông tin, trách nhiệm của các cơ quan liên quan…) thì cần ban hành dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật. Còn nếu UBND tỉnh chỉ quy định người phát ngôn và chế độ cung cấp thông tin cho báo chí của chính UBND tỉnh mà không hướng dẫn các Sở, ngành, UBND cấp huyện thì  ban hành dưới dạng văn bản cá biệt.
Trân trọng.

Độc giả: ngo thi kim nhung - tien giang
Phòng Net của tôi lúc trước có ký hợp đồng sử dụng phần mềm INCM_WIN để quản lý đại lý Internet với Bưu điện, sau một thời gian sử dụng thì máy chủ bị hư, tôi phải cài đặt lại máy, tôi không sử dụng phần mềm INCM_WIN nữa mà tôi sử dụng phần mềm cyber station manager gọi tắt là CSM của Vinagame vì tôi thấy phần mềm của CSM có nhiều ưu điểm hơn ví dụ như phần khống chế Web... nhưng đến khi các cán bộ trong lĩnh vực thông tin và truyền thông của tỉnh đến kiểm tra yêu cầu tôi không được sử dụng phần mềm CSM mà phải cài đặt lại phần mềm INCM_WIN nếu không thì đại lý của tôi sẽ phị phạt tiền vì tôi đã sử dụng Internet lậu. Mong các anh chị cho tôi ý kiến. Tôi thành thật biết ơn.

Xin chào chị Nhung,

- Chị có thể liên hệ với Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông để làm việc chi tiết về vấn đề bạn hỏi.

Địa chỉ liên hệ:

http://mic.gov.vn/vn/newintrodetail/cacdonvithammuu/4631/index.mic

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: 2370_ - A-11 Cư xá A,P.12, Q.6,TPHCM
Hiện nay Công ty của tôiđang triển khai hệ thống VoMPLS (Voice over MPLS) giữa các công ty thuộc tập đòn (bao gồm công ty tại Việt Nam và các công ty có trụ sở tại các nước khác. Xin được hỏi Quý Bộ trường hợp một cuộc goị VoMPLS bắt nguồn từ một công ty thành viên ở nước ngoài đến công ty thành viên tại Việt Nam thông qua mạng MPLS. Sau đó, cuộc gọi kết nối vào mạng viễn thông công cộng tại Việt Nam thì có được phép không? Nếu được thì thủ tục đăng ký như thế nào? Xin cảm ơn

Xin chào,

Bạn có thể tham khảo câu trả lời cho câu hỏi số 10 của độc giả: Le Thi Ai Vy - 19B Le Thi Rieng, Q.1, HCM.

Trân trọng,
Ban biên tập

Độc giả: việt nga - 18,Hoàng Quốc Việt
Tôi vừa đọc một bài báo trên báo Lao Động, số79/2009 (8187) ngày 11/4/2009 viết về chiêu thức từ chối tin rác cũng mất tiền. Di động của tôi cũng có báo tin nhắn rất nhiều, khi mở ra đọc mới biết là tin rác liền lập tức xoá (delete) tin luôn, như vậy có bị trừ tiền không, bởi vì tôi không kiểm tra tài khoản thường xuyên. Khi đọc bài báo này thì mới giật mình biết được có chiêu lừa tiền như thế này. Mong quý đơn vị cho biết việc xử lý này đến đâu, làm thế nào biết được máy của mình bị trừ tiền.

Chào bạn Việt Nga,

Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi số 31, 74, 76 ...

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Dương Kim Nga - TP Hà Tĩnh
Lâu nay tôi tính dự toán cho ngành CNTT và truyền thông theo đơn giá quy định tại Quyết định số 23/2005/QĐ-BBCVT ngày 29/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông về việc ban hành định mức xây dựng cơ bản công trình chuyên ngành Bưu chính, Viễn thông; nay TT Số: 02/2009/TT-BTTTT công bố văn bản trên hết hiệu lực . Vây Xin quý Bộ cho biết văn bản nào thay thế văn bản trên Xin trân trọng cảm ơn.

Xin chào bạn Nga,

Bạn có thể tham khảo công văn số: 257/BTTTT-KHTC- 258/BTTTT-KHTC ngày 9/2/2009 công bố định mức xây dựng cơ bản công trình bưu chính, viễn thông và Bảng ca máy và thiết bị thi công công trình bưu chính, viễn thông tại đây.

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Đoàn Thái Nhân - 223 Lãnh Binh Thăng , phường 12 , quận 11 , TP HCM
Doanh nghiệp của tôi kinh doanh dịch vụ Bưu chính Viễn thông được 10 năm . Hiện nay Công ty chúng tôi muốn kinh doanh dịch vụ OSP. Cho chúng tôi hỏi : - Hồ sơ xin cấp phép bao gồm những thủ tục gì? - Mẫu đơn được tải từ đâu? - Nộp hồ sơ tại đâu? - Thời hạn giải quyết? Trân trọng kính chào Chân thành cám ơn

Vụ Viễn thông xin trả lời:
1. Hồ sơ, thủ tục, quy trình, thời hạn cấp phép cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông được quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và Điều 41, Điều 39 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông. 
2. Mẫu đơn xin cấp phép: Hiện tại Bộ Thông tin và Truyền thông không ban hành mẫu đơn xin cấp phép. Bạn có thể viết đơn dưới dạng một công văn trong đó nêu một số thông tin giới thiệu về công ty và đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông.
3. Địa điểm nộp hồ sơ: Bộ Thông tin và Truyền thông - số 18 Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Độc giả: Ducvv - phú thọ
Xin quý Bộ cho tôi được phép hỏi một câu hỏi như sau: Tại sao đọc trên trang Website của Bộ thấy Bộ chỉ định rất nhiều các phòng đo kiểm viễn thông, nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hầu hết các trạm BTS chưa được đo kiểm, về vấn đề này Bộ có hướng xử lý và chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông như thế nào ? và bao giờ thì giải quyết xong ? Xin trân trọng cảm ơn !!!

Vụ Khoa học và Công nghệ xin trả lời:
* Về công tác đo kiểm các trạm BTS:
Theo Thông tư 09/2009/TT-BTTTT quy định kiểm định và công bố sự phù hợp với công trình viễn thông, thì Bộ TTTT thực hiện quản lý chất lượng công trình BTS thông qua việc chứng nhận kiểm định và công bố phù hợp các BTS theo các Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn về an toàn bức xạ tần số VTĐ và an toàn tiếp đất, chống sét. Tại Thông tư này quy định việc đo kiểm định là một bước bắt buộc trong quy trình kiểm định trạm BTS và việc đo kiểm định phải được thực hiện bởi các Phòng đo kiểm do Bộ TTTT chỉ định (danh sách Phòng đo được công bố trên trang web của Bộ) theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư, chủ sở hữu BTS với các Phòng đo kiểm này. Kết quả đo kiểm định sẽ được sử dụng để các Tổ chức kiểm định làm căn cứ cấp giấy chứng nhận kiểm định.
* Về công tác kiểm định, công bố trạm BTS:
Tại Thông tư 09/2009/TT-BTTTT, Bộ TTTT đã quy định rất cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan quản lý (tại Điều 17), bao gồm:
- Cục QLCL CNTT&TT: Chủ trì hướng dẫn quy trình, thủ tục kiểm định và công bố cho Doanh nghiệp và Sở TTTT; Tổ chức thực hiện việc kiểm tra, giám sát đối với công trình viễn thông đã được kiểm định; Công khai trên website về các nội dung kiểm định, công bố bao gồm: các Tổ chức kiểm định; cấp và thu hồi Giấy chứng nhận kiểm định; địa điểm tiếp nhận hồ sơ đăng ký công bố sự phù hợp; thông tin về hoạt động công bố sự phù hợp.
- Sở TTTT: Phối hợp với Cục QLCL trong công tác kiểm định và công bố đối với công trình viễn thông trên địa bàn quản lý; Chủ trì kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm định và công bố đối với công trình viễn thông trên địa bàn quản lý; Phát hiện và phản ánh các vấn đề về an toàn kỹ thuật chuyên ngành viễn thông, báo cáo và đề xuất với Bộ TTTT các biện pháp quản lý công trình viễn thông tại địa phương.
Bộ TTTT đã sát sao chỉ đạo các đơn vị nghiêm túc thực hiện các quy định tại Thông tư. Cụ thể, Bộ TTTT đã yêu cầu Cục QLCL ban hành các văn bản chi tiết hướng dẫn thực thi (như: quy định về hồ sơ, thủ tục; xác định thời điểm công trình đưa vào sử dụng; thời điểm BTS phải kiểm định, công bố;…), xây dựng quy trình phối hợp và cung cấp thông tin với các Sở TTTT; hướng dẫn các Sở kiểm tra, giám sát việc thực thi kiểm định BTS tại địa phương. Với các hướng dẫn này, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân hoàn toàn có đủ thông tin để xác định sự tuân thủ của các BTS theo quy định tại Thông tư 09/2009/TT-BTTTT.
Đối với tỉnh Phú Thọ cũng như các tỉnh/thành khác, theo quy định, các thông tin về BTS đã được kiểm định, công bố tại từng địa phương đều phải thường xuyên cập nhật tại trang web của Cục QLCL. Trong trường hợp phát hiện BTS có biểu hiện không tuân thủ theo các quy định về kiểm định, công bố quý độc giả có thể liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương là Sở TTTT và cơ quan quản lý thực thi công tác kiểm định là Cục QLCL để các đơn vị này trực tiếp giải quyết theo thẩm quyền hoặc các đơn vị này báo cáo Bộ TTTT có chỉ đạo giải quyết.
Để có thêm thông tin quý độc giả tham khảo các trang web:
http://mic.gov.vn/vn/hoidapmra/index.mic
http://www.ictqc.gov.vn

 

Độc giả: Nguyễn Tiến Thành -
Tôi muốn hỏi về thông tin dán tem hợp chuẩn đối với điện thoại di động, hiện tại Quyết định 22/2005/QĐ-BBCVT ban hành sẽ không áp dụng dán tem hợp chuẩn đối với điện thoại di động nữa, đến nay không rõ quyết định này còn hiệu lực hay không, nếu không thì Quyết định nào bát bỏ điều khoản của Quyết định số 22/2005.

Vụ Khoa học Công nghệ xin trả lời như sau:

Theo Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) ban hành “Quy định chứng nhận và công bố phù hợp tiêu chuẩn đối với sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính Viễn thông” thì các Quyết định 42/2004/QĐ-BBCVT ngày 5/10/2004 ban hành "Danh mục thiết bị viễn thông bắt buộc gắn tem phù hợp tiêu chuẩn" và Quyết định 22/2005/QĐ-BBCVT ngày 30/6/2005 về việc sửa đổi Quyết định số 42/2004/QĐ-BBCVT đã không còn hiệu lực và được thay thế bởi Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT.
Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT quy định doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh sản phẩm viễn thông thuộc danh mục bắt buộc phải chứng nhận hợp chuẩn phải đánh dấu công bố phù hợp tiêu chuẩn theo các quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang xem xét sửa đổi Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước mới ban hành.

Độc giả: Nguyễn Tiến Mạnh - Đài Phát thanh truyền hình Quảng NInh
Xin cho biết tiêu chuẩn thi phóng viên cao cấp?

Cục Báo chí, Vụ Tổ chức cán bộ xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Về Tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch phóng viên cao cấp:

Theo quy định  tại Quyết định số 428/TCCP-VC ngày 02/6/1993 của Bộ trưởng - Trưởng Ban Tổ chức cán bộ- Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) v/v ban hành Tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành Văn hóa - Thông tin 
1. Chức trách: Phóng viên cao cấp Là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất trong cơ quan báo chí thực hiện viết, chụp ảnh, quay phim thành thạo các thể loại của báo chí khó, phức tạp.
Nhiệm vụ cụ thể:
- Chủ trì xây dựng kế hoạch đề cương biên tập.
- Tổ chức chỉ đạo và thực hiện viết, chụp ảnh, quay phim các thể loại báo chí có nội dung tổng hợp, chủ đề lớn thuộc nhiều lĩnh vực có độ phức tạp cao.
- Viết bình luận, xã luận có nội dung liên quan đến trong nước và thế giới.
- Biên tập, xét duyệt tin bài trước khi đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung các tin, bài đó.
- Tổ chức và củng cố mạng lưới thông tin viên, cộng tác viên thuộc nhiệm vụ được phân công.
- Chuẩn bị nội dung trao đổi nghiệp vụ báo chí trong nước và quốc tế.
- Xây dựng mục tiêu, chương trình, tư liệu và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các ngạch công chức cấp dưới.
- Tham gia hội đồng xét duyệt chuyển ngạch cho phóng viên, biên tập viên cấp dưới.
2. Hiểu biết:
- Nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về các vấn đề đối nội và đối ngoại.
- Am hiểu sâu về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong nước và thế giới.
- Nắm vững hoajt động của các ngành, đơn vị địa phương, cơ sở có liên quan đến nhiệm vụ được phân công.
- Nắm vững Luật báo chí, luật pháp nhà nước.
- Biết chụp ảnh và sử dụng máy vi tính.
3. Yêu cầu trình độ:
- Tốt nghiệp Đại học báo chí trở lên, thâm niên ở ngạch phóng viên chính ít nhất 6 năm.
- Biết một ngoại ngữ trình độ C (đọc, nói, nghe thông thạo)
Hiện nay, chưa có văn bản sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch phóng viên cao cấp nói trên, nên tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch phóng viên cao cấp quy định tại Quyết định số 428/TCCP-VC ngày 02/6/1993 nêu trên vẫn còn hiệu lực thi hành. Các cán bộ, công chức, viên chức thi ngạch phóng viên cao cấp cần đáp ứng Tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch phóng viên cao cấp quy định tại Quyết định số 428/TCCP-VC ngày 02/6/1993 nêu trên.

Độc giả: Nguyễn Hà Ngân - 5/64 Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội
Tôi muốn hỏi việc kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động phải đáp ứng điều kiện gì? Xin vui lòng hướng dẫn thủ tục. Tôi xin chân thành cảm ơn

Vụ Viễn thông xin trả lời:
Hiện nay, nhiều dịch vụ trên điện thoại di động ví dụ như các dịch vụ cung cấp thông tin Bóng đá trong nước và quốc tế; dịch vụ cung cấp thông tin thư giãn, giải trí; dịch vụ cung cấp nhạc chuông, nhạc chờ cho điện thoại di động; thông tin về âm nhạc, lịch biểu diễn và địa điểm biểu diễn; Phối hợp với Đài Truyền hình, đài phát thanh, báo giấy, báo điện tử triển khai các dịch vụ giải trí, các trò chơi, chương trình.v.v… không được xếp vào danh mục các dịch vụ viễn thông (Điều 13 Nghị định 160/2004/NĐ – CP ngày 03/09/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về viễn thông). Vì vậy, để cung cấp dịch vụ này, doanh nghiệp không cần xin giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông mà phải phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông di động để thoả thuận hợp tác kinh doanh.
Trong trường hợp các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng điện thoại di động doanh nghiệp dự kiến cung cấp thuộc danh mục dịch vụ viễn thông (quy định tại Điều 13 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP) các doanh nghiệp phải làm hồ sơ xin cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét thẩm định. Điều kiện, quy trình thủ tục cấp phép quy định tại Điều 40, Điều 41 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP nói trên (website www.mic.gov.vn).

 

Độc giả: Nguyễn Thành Đô - 280/29 Bùi Hữu Nghĩa, P.2, Bình Thạnh
Xin chào, Tôi vừa thiết lập mộ trang Thương Mại Điện Tử và muốn đăng ký giấy phép ICP. Tôi tìm thông tin trên Google thì thấy toàn các công ty làm dịch vụ. Tôi muốn tự mình đăng ký giấy phép này. Vậy tôi cần phải chuẩn bị những thông tin, giấy tờ gì và tuần tự các bước đăng ký ra sao? Xin chỉ giúp. Mong sớm nhận được câu trả lời từ Bộ. Xin chân thành cảm ơn.

Xin chào bạn Thành Đô,

Bạn có thể tham khảo thông tin trên website Bộ Thông tin và Truyền thông tại chuyên trang về thủ tục hành chính, địa chỉ sau:

http://mic.gov.vn/vn/procedurecategory/ptthtttt_cucql/index.mic

Trân trọng.

Độc giả: Nguyễn Thành Tâm -
Thông tư 12/2008/TT-BTTTT ngày 30/12/2008 của Bộ TTTT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác đã có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, hiện nay việc quản lý hoạt động quảng cáo bằng tin nhắn (rác) từ các số di động đang diễn ra rất phổ biến nhưng người sử dụng điện thoại di động không có biện pháp nào để ngăn chặn. Tại địa phương, người sử dụng đang rất bức xúc về tin nhắn rác nhưng các đơn vị kinh doanh trên địa bàn chưa có động thái nào bảo vệ người tiêu dùng (vì ở địa phương chỉ là chi nhánh của các Tổng công ty cung cấp dịch vụ di động). Đề nghị Bộ TT&TT cho biết đã có biện pháp chỉ đạo các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động thực hiện Thông tư 12/2008/TT-BTTTT như thế nào để đảm bảo tính hiệu lực của Thông tư này, giảm phiền hà cho người sử dụng? Cám ơn sự quan tâm giải quyết và trả lời của Bộ TTTT.

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam xin trả lời như sau:

Cảm ơn anh vì đã đề cập về một vấn đề đang rất nóng trong thời gian gần đây. Đúng là hiện nay người dùng điện thoại di động chưa có được đủ các biện pháp cần thiết để ngăn chặn tin nhắn quảng cáo tới điện thoại của mình, trong khi các doanh nghiệp còn chậm trong hành động theo tinh thần đã được pháp luật quy định để bảo vệ người dùng. Đây cũng là vấn đề mà Bộ Thông tin và Truyền thông đang đặc biệt quan tâm giải quyết.
Quan điểm của Nhà nước về việc tăng cường bảo vệ thuê bao di động trước tin nhắn rác cũng đã được thể hiện rõ trong Nghị định 90/2008/NĐ-CP và Thông tư 12/2008/TT-BTTTT. Các văn bản trên đã chính thức có hiệu lực thi hành. Bộ Thông tin và Truyền thông đang chỉ đạo triển khai đồng thời một số biện pháp sau:
1. Tăng cường quản lý thuê bao di động trả trước.
2. Xây dựng mạng lưới thông báo thư rác giữa người dùng, doanh nghiệp viễn thông, Internet và cơ quan quản lý nhà nước.
3. Tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm cho các doanh nghiệp và người sử dụng điện thoại di động. Tuyên truyền, hướng dẫn việc sử dụng các dịch vụ quảng cáo qua tin nhắn hợp pháp.
4. Tăng cường trách nhiệm phối hợp theo dõi, xử lý tin nhắn rác giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Yêu cầu các doanh nghiệp sớm thực hiện nghĩa vụ theo Nghị định 90.
5. Xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm.
Hiện nay, các thông tin về hoạt động điều phối, xử lý thư rác được Trung tâm VNCERT theo dõi và cung cấp rộng rãi tại địa chỉ website  http://antispam.vncert.gov.vn.

Độc giả: Nguyễn Thị Hồng Xong, 33 tuổi - tổ dân phố 2 thị trấn La Hà-Huyện Tư Nghĩa- Tỉnh Quảng Ngãi
Kính gởi: Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Cho tôi xin hỏi là bao giờ có Thông tư thay đổi Thông tư 02 và 60 về quản lí trò chơi trực tuyến Game Online. Ở Quảng Ngãi họ bảo di dời cách trường học 200m nhưng mà trong toàn Tỉnh không nơi nào di dời mà chỉ di dời ở Thị trấn La Hà chúng tôi mà thôi. Chúng tôi thấy có nhiều bất cập và không khả thi về vấn đề này cách 200m để làm chi đâu, học sinh vẫn đi chơi game bình thường. Xin chân thành cảm ơn rất nhiều

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thị Hồng Xong có nội dung trùng với câu hỏi của bạn Huỳnh Thị Thu Thuỳ - TDP2,TT La Hà, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi và của bạn: Lê Thị Loan - Phường 4, TX Đông Hà, Quảng Trị -thangthuyserver@zing.vn . Đề nghị bạn xem phần trả lời của Vụ Viễn thông cho câu hỏi của bạn Thùy và bạn Loan.

Trân trọng.

Độc giả: Đặng Trần Hưng - TT.Thanh Sơn-Thanh Sơn-Phú Thọ
Xin hỏi, chẳng hạn em là người dùng điện thoại thuê bao của mạng Vinaphone, em dùng số này để phục vụ nhắn tin rác. Vậy em hỏi chủ mạng vinaphone có phải chịu trách nhiệm gì trong việc nhắn tin nhắn rác của em không. Em xin cảm ơn.

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam xin trả lời như sau:

Trước hết, cần nhấn mạnh là nếu phát tán thư rác thì em sẽ là đối tượng đầu tiên bị xử lý về hành vi phát tán thư rác của mình.
Về phía các công ty di động, doanh nghiệp sẽ không phải “chịu trách nhiệm” về hành vi phát tán thư rác của em. Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm chung về chống thư rác theo quy định tại Điều 24 Nghị định 90/2008/NĐ-CP và khoản 3 Mục 5 Thông tư 12/2008/TT-BTTTT.

Độc giả: Cao Van Hai - Ha Tay
Kính thưa Bộ Thông tin và Truyền thông, Tôi là cộng tác viên dư luận của Ban Tuyên giáo xã, tôi rất muốn cập nhật được thật nhiều thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước về các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước để từ đó làm tư liệu tuyên truyền đối với đảng viên và nhân dân tại khu dân cư và cho phát thanh trên hệ thống truyền thanh của khu dân cư. Hiện nay rất nhiều báo và tạp chí nhưng tôi không có đủ điều kiện để tìm hiểu nên tôi muốn biết Quý Bộ cho tôi địa chỉ 1 trang Web hoặc nguồn thông tin nào đó mà qua mạng internet để tôi nghiên cứu và cập nhật thông tin đó.

 Bạn có thể vào các trang thông tin điện tử sau đây:
- Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: http://cpv.org.vn/index.html

- Trang tin điện tử của Quốc hội: http://www.na.gov.vn

- Trang tin điện tử của Chính phủ: http://www.chinhphu.vn

Trên Trang tin điện tử của Chính phủ có đường liên kết tới các Trang tin điện tử của các Bộ, Ngành để bạn có thể tham khảo chi tiết hơn các nội dung quan tâm.

 

BBT

Độc giả: TRỊNH THỊ HỒNG NGA - 6/2 BA VÂN, P14, Q. TÂN BÌNH, TP. HCM
Hiện công ty chúng tôi làm về lĩnh vực thiết kế website. Do vậy chúng tôi có đăng ký hộ tên miền Vn và quốc tế cho KH, thông qua các nhà cung cấp là P.A Việt Nam và Mắt Bão. Tuy nhiên, chúng tôi vừa nhận công văn của VNNIC yêu cầu đăng ký thông tin khi là đại lý tên miền Quốc tế tại VN (Thực tế chúng tôi không là đại lý của các đối tác tên miền nước ngoài). Vậy xin hỏi chúng tôi có phải điền bảng khai gửi về VNNIc hay không? Và phải khai như thế nào? Xin hướng dẫn giúp. Chân thành cảm ơn.

Trung tâm Internet Việt Nam trả lời bạn như sau:

Khi Công ty của bạn đăng ký tên miền quốc tế hộ cho khách hàng có nghĩa là bạn đã là đại lý cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam. Đại lý là danh từ chung có thể là trực tiếp của nước ngoài hay đại lý thứ cấp thông qua một đại lý khác như trường hợp của bạn. Trên tinh thần của Nghị định 97/2008/NĐ-CP và Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT, bạn vẫn phải chịu trách nhiệm quản lý số tên miền quốc tế bạn đã đăng ký cho người sử dụng tại Việt Nam và phải khai báo đăng ký.

Hồ sơ đăng ký bao gồm:

1/ Bản khai đăng ký hoạt động Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam,

2/ Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định thành lập.

Hồ sơ đăng ký hoạt động Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam phải được gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông - 18 - Nguyễn Du - Hà Nội. Trong bản khai đăng ký hoạt động, phần thông tin về các đối tác mà mình làm Nhà đăng ký hay đại lý cần phải nêu đầy đủ các đơn vị mà Công ty của bạn đang là đại lý cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền quốc tế.

Chi tiết Thông tư 09/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008 và bản khai đăng ký hoạt động Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo hoặc download trên Website của Bộ Thông tin và Truyền thông theo địa chỉ http://www.mic.gov.vn (mục văn bản QPPL) hoặc tại http://thongbaotenmien.vn.

Độc giả: Nguyễn Hoàn - 28, Trần Hưng Đạo, Đông Hà, Quảng Trị
Tôi xin được hỏi quý Bộ Thông tin và Truyền thông về một số vấn đề liên quan blog và xuất bản trên mạng như sau: - Việc các Web-blog, blog (dĩ nhiên không thuộc diện cấp phép của Bộ Thông tin và Truyền thông) đăng lại bài vở từ các báo, các Web khác (các Web này đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép) có vi phạm pháp luật về bản quyền không, nếu đăng lại mà có trích dẫn nguồn thì có được phép không? - Các Web-blog, blog thuộc loại trang thông tin điện tử cá nhân nhưng lại đăng tải thông tin từ các báo, các Web khác và đăng bài bàn đến các vấn đề chính trị, xã hội khác, nghĩa là không khác gì một trang thông tin điện tử tổng hợp (trang thông tin điện tử tổng hợp phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép) thì có được phép không, có trái với quy định tại Nghị định 97 hay không? - Việc các chủ nhân blog cho in tác phẩm văn học (thơ, ký, truyện...) trên blog theo các hình thức: in rời từng bài thơ, in từng tập tiểu thuyết (dĩ nhiên các tác phẩm này chưa hề được cấp phép xuất bản) thì có coi đó là hoạt động xuất bản trên mạng không, có được điều chỉnh bởi pháp luật về xuất bản trên mạng không? Trong khi pháp luật quy định việc xuất bản trên mạng internet phải do Nhà xuất bản thực hiện chứ không phải là các chủ nhân blog.

Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử xin trả lời bạn như sau:

Ngày 18/12/2008, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một số nội dung về  hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân (blog) trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, trong đó tại mục 3, Thông tư này đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân.

Đề nghị anh Nguyễn Hoàn xem các nội dung trên làm căn cứ.

Độc giả: Trần Trí Triết - 70-72 Phan Xích Long P2 Quận Phú Nhuận Tp HCM
Nhóm Đom đóm Việt Nam đã hoàn thành mức cơ bản phần mềm "Quản lý văn bản trợ giúp các công việc hành chính cấp Phường xã" , sử dụng trong mạng LAN tại một số Phường TP. Hồ Chí Minh và dùng trong giảng dạy minh họa cho môn học "ứng dụng tin học trong quản lý hành chính" tại các lớp Trung cấp, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các Quận Huyện, tại Trường cán bộ TP. Hồ Chí Minh. Nếu muốn gửi tặng Bộ TT&TT để tham khảo, xem xét và cho ý kiến nên phát triển hay dừng lại công việc phổ biến này thì gửi tài liệu hướng dẩn và đĩa CD phần mềm vào địa chỉ nào?

Xin cảm ơn nhóm Đóm đóm, các bạn có thể gửi tài liệu hướng dẫn và đĩa CD phần mềm tới  Cục Ứng dụng công nghệ thông tin, Vụ công nghệ thông tin, Trung tâm Thông tin là các đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.

Địa chỉ liên hệ có tại: http://mic.gov.vn/vn/newintro/gt_cocautochuc/2/index.mic

Trân trọng,

BBT

Độc giả: bui minh dai - điện lực hà giang
Đề nghị Bộ giải thích: Dịch vụ bưu chính phổ cập, Dịch vụ bưu chính bắt buộc và do đơn vị nào trên địa bàn tỉnh thực hiện?

Vụ Bưu chính xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Dịch vụ bưu chính công ích (bao gồm dịch vụ Bưu chính phổ cập và dịch vụ Bưu chính bắt buộc) do Tổng công ty Bưu chính Việt Nam cung cấp. Trên địa bàn các tỉnh thì đơn vị thực hiện là các Bưu điện tỉnh (đơn vị trực thuộc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam).

Độc giả: Trần Văn Hiền - STT&TT Đắk Lắk
Một doanh nghiệp đănng ký sử dụng tên miền buonmathuot.com.vn có phù hợp không? nếu không xin nêu rõ lý do. (buonmathuot là tên thành phố Buôn Ma Thuột). Xin trả lời gấp, chân thành cảm ơn.

Trung tâm Internet Việt Nam trả lời bạn như sau:

1/ Về việc này, ngày 25/02/2009 Trung tâm Internet Việt Nam đã có công văn số 63/VNNIC ngày 25 tháng 02 năm 2009 trả lời Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh ĐắkLắk.
2/ Theo quy định tại Thông tư 09/2008/TT-BTTTT, tên miền do tổ chức, cá nhân tự chọn để đăng ký phải đảm bảo không có các cụm từ xâm phạm đến lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với đạo đức xã hội, với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Đối với trường hợp tên miền buonmathuot.com.vn không có vi phạm, cũng giống như các tên miền saigon.com.vn, hanoi.com.vn, hue.com.vn, khanhhoa.com.vn,... đã được cấp phát trong giai đoạn trước.

Độc giả: Phạm Đăng Tùng - huyện Thuận An - tỉnh Bình Dương
1/ Việc định hướng phát triển công nghệ thông tin - Hiện nay có 2 nguồn tin phát triển công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước. * Nguồn tin thứ 1 : Bộ TT-TT có chỉ thị 07 Về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước. Theo nhận định từ hướng phát triển của Bộ TT-TT cho thấy định hướng phát triển các phần mềm mã nguồn mở nhưng không biết có chuyển đổi hệ điều hành sang linux hay không ? Một số tỉnh thành đang xây dựng các ứng dụng chuyên ngành trên hệ điều hành windows, nếu chuyển sang hệ điều hành khác sẽ tạo ra sự lãng phí và đình trể công việc. * Nguồn tin thứ 2 : Các tỉnh thành triển khai Microsoft Office có bản quyền. vậy hướng phát triển ứng dụng trên hệ điều hành windows nhưng hệ điều hành không có mua bản quyền. => từ 2 nguồn tin trên, Bộ TT-TT cho biết chính phủ điện tử được phát triển trên hệ điều hành nào ? hướng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin như thế nào ? Việc xây dựng ứng dụng tại các địa phương diễn ra manh mún, nhỏ lẻ không có sự đồng bộ nên khi triển khai một ứng dụng nào khác để thay thế sẽ khó khăn trong việc chuyển đổi dữ liệu và thói quen của người dùng. 2/ Việc xây dựng văn bản điện tử - chử ký số Việc xây dựng văn bản điện tử sẽ ảnh hưởng rất nhiều trong công tác văn thư. Hiện nay một số địa phương xây dựng chương trình quản lý văn thư riêng thay thế chương trình quản lý văn thư của đề án 112 và đồng thời các phần mềm quản lý văn thư thực hiện theo tiêu chuẩn ISO của đơn vị yêu cầu. Việc triển khai văn bản điện tử rất khó khăn không thể kết nối giữa các đơn vị với nhau tạo nên cản trở rất nhiều trong việc xây dựng văn bản điện tử và chử ký số. Bộ TT-TT phải đề ra phương hướng phát triển và yêu cầu về kỉ thuật để tích hợp các ứng dụng với nhau. 3/ Các ứng dụng dịch vụ hành chính công Các địa phương hiện nay đang xây dựng kế hoạch phát triển các website cung cấp dịch vụ hành chính công nhưng nội dung trang web còn nghèo nàn về thông tin, đôi khi vào trang web thấy những tin cách đây 6 tháng. Bộ TT-TT cần phải có văn bản chấn chỉnh về việc các web không cập nhật thông tin kịp thời. 4/ Thư điện tử Chính phủ có chỉ thị về sử dụng thư điện tử, Bộ TT-TT cần phải có server mail để tất cả các cán bộ công chức đăng ký sử dụng, Việc đăng ký cần phải có sử dụng xác nhận của sở nội vụ kiểm soát và theo dõi khả năng sử dụng hiệu quả thư điện tử của các đơn vị trong tỉnh. để kịp thời chấn chỉnh kịp thời việc sử dụng mail. Hiện nay một số cán bộ trẻ đều sử dụng mail yahoo chủ yếu để chat, chứ chưa sử dụng hiệu quả của thư điện tử. Hộp thư điện tử thể hiện được tính hiện đại của một cơ quan hành chính, Nếu cơ quan hành chính có hộp mail tinhbinhduong@yahoo.com.vn cảm thấy sự thấp kém của cơ quan hành chính. Bộ TT-TT hãy triển khai server mail để cho các cán bộ công chức đăng ký thông qua sở nội vụ. Vì sở nội vụ nắm bắt được ai là cán bộ công chức Kính mong Bộ TT-TT cho biết câu trả lời sớm nhất để định hướng được sự phát triển của cơ quan

Vụ Công nghệ Thông tin và Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

1. Trả lời câu hỏi của bạn về việc có chuyển đổi hệ điều hành sang Linux hay không và định hướng chính phủ điện tử được phát triển trên hệ điều hành nào:
Xu hướng phát triển của công nghệ hiện này là phần mềm như một dịch vụ (SaaS) với Internet là nền tảng và trình duyệt (web browser) là phương tiện truy cập cho mọi ứng dụng. Vì vậy, Bộ TT&TT sẽ không xác định một nền tảng hệ điều hành cụ thể nào để định hướng cho việc phát triển Chính phủ điện tử. Quan điểm định hướng chung của Bộ TT&TT là các ứng dụng công nghệ thông tin sẽ được kết nối, liên thông với nhau, không phụ thuộc vào chỉ một công nghệ cụ thể. Bộ TT&TT đang giải quyết từng bước vấn đề này . Các Quyết định số 19/2008/QĐ-BTTTT20/2008/QĐ-BTTTT ngày 9/4/2008 của Bộ TT&TT ban hành Danh mục và Quy định áp dụng tiêu chuẩn về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước là những bước đi đầu tiên theo hướng này.
Ngoài ra, liên quan đến một ý khác trong câu hỏi của bạn về hệ điều hành Windows không có bản quyền, Bộ TT&TT trả lời như sau:
Việc sử dụng hệ điều hành Windows không có bản quyền không phải là hành động hợp pháp. Tuy nhiên, thông thường bản quyền hệ điều hành và các chương trình hệ thống được các công ty cung cấp máy tính (OEM) đảm bảo khi bán máy tính. Vì vậy, Bộ TT-TT không đặt vấn đề mua bản quyền Windows. Hiện tại Bộ đang triển khai đánh giá một số hệ điều hành nguồn mở để có nhiều hơn sự lựa chọn cho cộng đồng và góp phần giảm chi phí mua sắm bản quyền hệ điều hành.
Về Chỉ thị số 07/2008/CT-BTTTT, chúng tôi xin chia sẻ thêm với bạn như sau:
Thực hiện các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đang tăng cường hiệu lực thực thi Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm cả vấn đề bản quyền phần mềm. Áp lực bản quyền phần mềm đang đặt ra thách thức rất lớn, buộc Việt Nam phải có một lộ trình thực hiện rõ ràng và hợp lý. Vì vậy, một mặt các cơ quan nhà nước triển khai mua bản quyền phần mềm Microsoft Office, mặt khác chủ động nghiên cứu, phát triển các sản phẩm phần mềm thay thế, trong đó có việc thí điểm sử dụng các sản phẩm mã nguồn mở trong các cơ quan chuyên trách về CNTT.
Từ năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án tổng thể Ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008, trong đó nhấn mạnh ưu tiên sử dụng và phát triển các sản phẩm phần mềm nguồn mở.
Xét tình hình thực tế ở nước ta, bên cạnh việc dùng một khoản kinh phí để mua sắm và sử dụng phần mềm thương mại có bản quyền từ các hãng phần mềm uy tín quốc tế để đáp ứng nhu cầu sử dụng cấp thiết, Việt Nam cần có chính sách nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho phần mềm và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm trong nước. Ngoài ra, việc ứng dụng phần mềm nguồn mở, tuân theo các tiêu chuẩn mở, là một trong những giải pháp quan trọng để từng bước làm chủ và độc lập về mặt công nghệ, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin, giảm chi phí mua sắm phần mềm trong dài hạn, góp phần đảm bảo khả năng thực thi các cam kết về sở hữu trí tuệ đối với phần mềm trong các cơ quan nhà nước.
Do vậy, bên cạnh việc mua bản quyền phần mềm thương mại Microsoft Office (MSO), chúng ta cần chuẩn bị sẵn sàng để có thể triển khai đưa vào sử dụng trong các cơ quan nhà nước bộ phần mềm văn phòng nguồn mở OpenOffice. Để thực hiện việc này, các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của các Bộ, ngành, và các Sở TT&TT phải đi trước một bước. Đó cũng là tinh thần của Chỉ thị 07, nhằm yêu cầu các Sở TT&TT và đơn vị chuyên trách CNTT của các Bộ, ngành triển khai cài đặt, sử dụng, làm quen với các phần mềm nguồn mở nằm trong Danh mục từ năm 2009, để đến cuối năm 2010 thì có thể thành thạo các phần mềm này, và sang năm 2011 thì sẵn sàng để hỗ trợ, mở rộng triển khai đưa các phần mềm này vào ứng dụng rộng rãi.
2. Để đảm bảo sự hoạt động liên thông giữa các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, trong thời gian qua, Bộ TT&TT đã ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể. Ngoài các Quyết định số 19, 20 đã nêu ở trên, Bộ cũng đã ban hành văn bản số
1654/BTTTT-ƯDCNTT ngày 27/5/2008 Hướng dẫn các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng kỹ thuật cho các dự án dùng chung theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg trong đó hướng dẫn cho Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, Hệ thống cổng thông tin điện tử, Hệ thống thư điện tử. Trong thời gian tới, Bộ TTTT tiếp tục nghiên cứu để giải quyết tốt hơn nữa vấn đề này.   
3. Triển khai Luật Công nghệ thông tin ngày 29/6/2006, Nghị định Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước (Nghị định Chính phủ số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007), thực hiện Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008), đến nay gần 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã xây dựng và đưa vào sử dụng Website hoặc cổng thông tin điện tử (Portal) nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Để đảm bảo việc cung cấp thông tin kịp thời cho Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, Luật CNTT đã quy định cơ quan nhà nước phải “Cập nhật thường xuyên và kịp thời thông tin trên trang thông tin điện tử” và Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã có một khoản mục quy định cụ thể về “Cung cấp nội dung thông tin” (từ Điều 18 đến Điều 21). Tiếp tục đẩy mạnh việc cung cấp thông tin kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và các tổ chức, trong chương trình công tác năm 2009, Bộ Thông tin và Truyền thông đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị định quy định về việc cung cấp thông tin trên Website hoặc Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước để trình Chính phủ ban hành.
4. Theo Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 3/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
“Bảo đảm các điều kiện triển khai hệ thống thư điện tử tại cơ quan nhà nước các cấp, gồm các nội dung:
- Tận dụng hạ tầng công nghệ thông tin hiện có, đặc biệt từ kết quả của các đề án, dự án đã được triển khai và sự hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp đưa vào sử dụng hiệu quả các hệ thống thư điện tử;
- Tạo lập hộp thư điện tử cho cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan tại những nơi đã đủ điều kiện, xem xét tạm thời sử dụng hộp thư điện tử miễn phí có tính bảo mật cao tại những nơi chưa đủ điều kiện. Ngoài ra, tạo điều kiện thiết lập hộp thư điện tử cho các cơ quan, đơn vị cấp dưới chưa đủ điều kiện tạo lập hệ thống thư điện tử của riêng mình;
- Khẩn trương xây dựng quy chế sử dụng hệ thống thư điện tử của mỗi cơ quan. Trong đó, xác định rõ trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong việc xây dựng, duy trì hoạt động hệ thống thư điện tử, trách nhiệm sử dụng hộp thư điện tử cá nhân, hộp thư điện tử cơ quan; quy định rõ quy trình xử lý công việc sử dụng hệ thống thư điện tử, những nội dung bắt buộc, khuyến khích được trao đổi qua hệ thống thư điện tử;
- Xây dựng và triển khai kế hoạch duy trì, phát triển hệ thống thư điện tử hàng năm đáp ứng nhu cầu công việc, bảo đảm sự đồng bộ với các hệ thống thông tin điện tử khác.”
Qua nội dung trên, có thể thấy rằng: 1) Việc bảo đảm hạ tầng triển khai hệ thống thư điện tử của các Bộ, ngành, địa phương thuộc trách nhiệm của bản thân các cơ quan này (trong đó có việc trang bị mail server); 2) Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng, duy trì, sử dụng hệ thống thư điện tử cần được quy định trong Quy chế sử dụng hệ thống thư điện tử mà bản thân các cơ quan phải khẩn trương xây dựng, trong đó sẽ quy định trách nhiệm cập nhật danh mục địa chỉ thư điện tử, trách nhiệm sử dụng hiệu quả thư điện tử … 3) Với những nơi chưa đủ điều kiện, có thể sử dụng hộp thư điện tử miễn phí để phục vụ hiệu quả công việc, điều này cũng không thể cho là sự thấp kém của cơ quan hành chính.
Về trách nhiệm của Bộ TT&TT, Bộ cũng đang thực hiện nhiệm vụ được giao trong Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg đó là: ”Phối hợp với các cơ quan liên quan và các doanh nghiệp nghiên cứu và từng bước xây dựng hệ thống thư điện tử, quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc”.

Độc giả: Nguyen Manh Hung - Vinh Yen - Vinh Phuc
Làm ơn cho tôi bảng giá cước mới nhất của dịch vụ điện thoại Gphone?

Bạn có thể tham khảo tại địa chỉ:

http://www.hnt-vnpt.com.vn/CuocDichVuVienThong/giacuoc_gphone.asp

BBT

Độc giả: Minh Ngọc - Ninh Bình
Xin Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết văn bản nào quy định mẫu đơn, mẫu tờ khai để làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động báo chí và xuất bản đặc san.

Chào bạn Minh Ngọc,

Bạn cho thể tham khảo thông tin tại địa chỉ trên website Bộ Thông tin và Truyền thông:

http://mic.gov.vn/vn/procedurecategory/baochi_cucbaochi/index.mic

Trân trọng.

 

Độc giả: 2349_ -
Tôi đang sử dụng truyền hình cáp HTVC nhưng dạo này họ chỉnh gì mà kênh THVL1 bị tạm ngưng hoài.Cho đến hôm nay thì kênh THVL1 đã biến thành VTV4! Hỏi trên đài thì chỉ được câu trả lời "chúng tôi đang thương lượng bản quyền và tạm ngưng một thời gian" ,nhưng nghe nói là trên đầu thu set top có phát kênh THVL1.Vậy chẳng lẽ để xem kênh THVL1 mà chúng tôi phải bỏ ra vài triệu đồng để xem hay sao? Kênh THVL1 chẳng lẽ lại là kênh có bản quyền như họ nói? Hy vọng là THVL1 có thể mượn sóng VTC để phát miễn phí kênh THVL1 như kênh Todaytv và Let's Viet.

Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử xin trả lời bạn như sau:

Kênh truyền hình Vĩnh Long là kênh do Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long sản xuất, với mục đích chủ yếu để phủ sóng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Việc đưa kênh truyền hình Vĩnh Long vào mạng truyền hình cáp HTVC là do thỏa thuận trực tiếp giữa Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long và Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (HTV) để cung cấp dịch vụ truyền hình cáp. Tiếp đó, dịch vụ truyền hình cáp được cung cấp đến người xem căn cứ theo Hợp đồng cung cấp dịch vụ. Vì vậy:
1. Bạn kiểm tra lại Hợp đồng cung cấp dịch vụ xem việc điều chỉnh kênh như vậy có vi phạm hợp đồng không.
 2. Bộ Thông tin và Truyền thông đang chỉ thị các đơn vị hoạt động truyền hình cáp kiểm tra, củng cố và nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật và phương án tổ chức cung cấp dịch vụ, bảo đảm ổn định chất lượng tín hiệu đầu cuối và chất lượng dịch vụ như cam kết đến người sử dụng để tránh gây bức xức cho người xem. 

Độc giả: Nguyễn Thị THu Hằng - 2p1 ngõ 71 Nguyễn An Ninh
Tôi xin hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông câu hỏi như sau: Chúng tôi hiện nay đã mở sàn giao dich về bất động sản. Nội dụng của chúng tôi chủ yếu là về các giao dịch mua bán, thuê bất động sản. Ngoài ra để làm phong phú cho website thì chúng tôi một mục nhỏ để đưa tin về nhà đất và có một mục forum để mọi người bình luận. Tôi đã đọc và tham khảo ở 97/2008/NĐ-CP nhưng tôi vẫn không biết chắc chắn rằng trang web của chúng tôi có phải đăng ký ICP không. Và nếu phải đăng ký tại điều 22 mục 2 và mục 4 có nói phai theo mẫu của Bộ BC và có thể đăng ký thông qua mạng theo bộ quy định- tôi có thể lấy mẫu này ở đâu? Bộ có thể cung cấp số điện thoại để chúng tôi có thể hỏi được dễ dàng hơn không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử xin trả lời bạn như sau:

- Đối với trang thông tin điện tử về sàn bất động sản thì theo quy định của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP, không cần phải có giấy phép, tuy nhiên phải tuân thủ các quy định của pháp luật tại Nghị định này và quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan.
- Việc có forum để mọi người bình luận thuộc dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông. Tuy nhiên, hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông đang xây dựng Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 97 về quản lý thông tin trên mạng internet, trong đó sẽ hướng dẫn cụ thể, chi tiết về các nội dung liên quan đến việc đăng ký cung cấp mạng xã hội trực tuyến. Vì vậy, Công ty có thể chủ động triển khai cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện thủ tục đăng ký sau khi có văn bản hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Chị Hằng có thể liên lạc với Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (50 Triệu Việt Vương, Hà Nội, số điện thoại 04.39448034 máy lẻ 206, 208) để được hướng dẫn rõ hơn.

Độc giả: Nguyễn Trọng Dũng - Hải Dương
Chúng tôi muốn thiết lập hệ thống VoIP để cung cấp dịch vụ cho khách hàng ( Khách hàng dùng điện thoại truyền thống hoặc Internet ) đều có thể gọi điện thoại trực tiếp tới máy tính; điện thoại cố định hoặc điện thoại di động trong nước với mức cước giảm rất nhiều so với các phương thức liên lạc truyền thống. Mọi chi phí kết nối liên quan tới các nhà cung cấp dịch vụ đều được chúng tôi thanh toán theo đúng quy định ( Chúng tôi xây dựng hệ thống kết nối; chấp nhận rủi ro trong thanh toán cước phí kết nối đường dài khi không quảng bá được dịch vụ. Khách hàng cũng được hưởng lợi khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi ) Vậy xin hỏi việc kết nối của chúng tôi có được coi là hợp pháp hay không? Chúng tôi cần những thủ tục như thế nào để được tiến hành cung cấp giải pháp kỹ thuật của mình tới khách hàng?

Vụ Viễn thông Bộ Thông tin và Truyền thông xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Theo các quy định hiện hành về điện thoại IP tại Việt Nam hiện nay, khái niệm điện thoại IP được hiểu như sau:
Điện thoại IP = VoIP + Điện thoại Internet

Trong đó:
“Điện thoại VoIP: là dịch vụ điện thoại liên quan đến người việc người sử dụng dùng điện thoại thông thường (trao đổi tín hiệu thông qua mạng PSTN), quay mã dịch vụ (171, 278, 177, …) để kết nối với hệ thống cung cấp dịch vụ (của nhà cung cấp: VNPT, Viettel, SPT, …) và thực hiện cuộc gọi”; còn
“Điện thoại Internet là hình thức sử dụng máy tính hay các thiết bị đầu cuối có chức năng tương đương truy cập vào mạng Internet để kết nối đến máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ và thực hiện cuộc gọi”;
Về phần kênh truyền dẫn, hai dịch vụ này được phân biệt như sau:
- dịch vụ VoIP sử dụng kênh truyền dẫn là kênh thuê riêng (leasedline) để kết nối giữa các POP với nhau: ví dụ như dịch vụ 171, 178, 177, …
- dịch vụ điện thoại Internet sử dụng kênh truyền dẫn là mạng Internet công cộng: ví dụ như điện thoại Internet loại hình PC-to-Phone chiều đi quốc tế do công ty OCI, QTnet, DataLink đang cung cấp…

Theo quy định hiện hành, thì:
- Đối với dịch vụ VoIP: Chỉ các doanh nghiệp hạ tầng mạng (đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông) mới được cung cấp dịch vụ VoIP;
- Đối với dịch vụ điện thoại Internet: hiện nay chỉ có 2 loại hình dịch vụ PC-to-PC trong nước và quốc tế và PC-to-Phone chiều đi quốc tế được xếp vào danh mục dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông (Khoản 1 Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT ngày 12/11/2008), do đó chỉ có các doanh nghiệp đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông (trong đó có bao gồm dịch vụ điện thoại Internet) mới được cung cấp 2 dịch vụ này.

Đối với các loại hình dịch vụ điện thoại Internet khác như Phone-to-Phone; PC-to-Phone chiều quốc tế về hiện chưa được phép cung cấp tại Việt Nam. Tuy nhiên, Bộ Thông tin và Truyền thông đang xem xét, nghiên cứu và sẽ ban hành quy định quản lý các dịch vụ này trong thời gian tới.

Độc giả: Hoàng Thắng - Hỏi về dịch vụ tin nhắn quảng cáo trên mạng ?
Cho hỏi cách bộ quản lý việc các tổng đài "ma" quảng cáo tin nhắn tràn lan hiện nay như thế nào, có đạo luật nào xử lý về tin nhắn quảng cáo, tin nhắn spam trên điện thoại di động không. Tôi thấy tình trạng này đã kéo dài nửa năm nay, có lẽ tôi và rất rất nhiều người nhận tin nhắn như thế, ví dụ: "NgayThangNamSinh bạn nói lên vấn đề gì trong cuộc sống ... xin nhắn cú pháp DM 07041984 gửi 8763..." Có lẽ ai sành di động cũng thừa biết rằng nếu soạn cú pháp lại như vậy thì sẽ mất 15.000 đ. Tôi mong tình trạng chấm dứt hoặc phải có luật phù hợp thông báo cước khi giao dịch với tin nhắn trên.
Độc giả: pham xuan chieu - 14 Huynh Khuong Ninh, F.Dakao, Quan 11
Xin cho hỏi thăm khi chúng tôi nhập khẩu mặt hàng máy vi tính xách tay, có phải xin giấy phép theo QĐ số 46/2006/QĐ-BBCVT hay không. xin trả lời cho chúng tôi được rõ. Thành thật cám ơn
 
Độc giả: Phan Thanh Nam - K4 - Tây Sơn - Hương Sơn - Hà Tĩnh
Hiện tôi có trang web tgt2.com là trang web tự động cập nhật tin tức từ các trang đã có giấy phép như dantri.com.vn, vietnamnet.vn, thanhnien.com.vn, tuoitre.com.vn, vnmedia.vn, ... và vnexpress.net. Đây là một trang web của cá nhân, cơ chế làm việc hoàn toàn tự động, hằng ngày vào quản trị không cần phải làm gì mà chỉ xem lưu lượng truy cập là chủ yếu. Nay tôi đã đăng ký tên miền ymail.com.vn và muốn chuyển trang tgt2.com về đó. Vậy tôi có cần xin giấy phép cho trang của mình? Thủ tục như thế nào? Các mẫu đăng ký tôi có thể lấy ở đâu? Và nếu không muốn xin cấp phép thì tôi phải bỏ những chuyên mục nào? Tôi xin trân trọng cám ơn! Phan Thanh Nam

Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử xin trả lời bạn như sau:

- Theo quy định của Nghị định số 97 số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet, trang thông tin điện tử tự động cập nhật tin tức từ các trang đã có giấy phép như dantri.com.vn; vietnamnet.vn, thanhnien.vn…. thuộc diện trang thông tin điện tử tổng hợp và phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép. Điều kiện, hồ sơ đăng ký cấp phép được quy định tại Điều 20, 21 Nghị định này.
- Khoản 6, Điều 19 Nghị đinh số 97/2008/NĐ-CP, quy định “Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiếp lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2,3,4,5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên internet”.

Độc giả: Thanh tra sở TT&TT Tiền Giang - 02 Lê Văn Duyệt, P1 TP. Mỹ Tho, Tiền Giang
Trong quy định về điều kiện kinh doanh đại lý Internet, trước đây có Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT ngày 14/7/2005 và hiện tại là Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 (Điều 15). Theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (có hiệu lực từ 01/01/2009) thì phải áp dụng quy định văn bản có giá trị pháp lý cao hơn tức là Nghị định số 97/2008/NĐ-CP. Thế nhưng tại Điều 15 của Nghị định số 97 không quy định về: - Người quản lý phòng máy phải có trình độ tối thiểu là A tin học. - Sơ đồ hệ thống máy tính. - Sổ tập hợp các quy định của Nhà nước về Internet. Như vậy, khi thanh kiểm tra Internet tại các đại lý Internet thì có phải kiểm tra 3 điều này? Nếu văn bản QPPL đang có hiệu lực không quy định thì kiểm tra nếu chủ đại lý không đáp ứng được 3 yêu cầu này thì cũng không có cơ sở xử lý. Kính mong Thanh tra Bộ sớm giải đáp để Sở có thêm thông tin để tập huấn cho cấp huyện.

Thanh tra Bộ xin trả lời:
Theo quy định tại Điều 81 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (có hiệu lực từ 01/01/2009):Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
3. Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT ngày 14/7/2005 không quy định thời hạn hết hiệu lực, chưa có văn bản nào hủy bỏ, do vậy Thông tư này vẫn còn hiệu lực thi hành.
Các điều khoản quy định tại Thông tư số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT nếu Nghị định số 97/2008/NĐ-CP không quy định hoặc  không trái với các quy định của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP thì vẫn áp dụng được.

Độc giả: Ngô Tuấn Hiển - Trung tâm Tin học, VP UBND tỉnh Đồng Naii
Tôi có những thắc mắc và kiến nghị trong việc thực hiện 2 quyết định 45,46/2006 của Bộ về Tem hợp chuẩn trong thực tế như sau: Trong tuần này, Thanh Tra Sở TTTT tỉnh Đồng Nai đang thực hiện việc thanh tra việc sử dụng tem hợp chuẩn theo 2 quyết định nêu trên của Bộ TTTT đối với tất cả các cơ sở, công ty kinh doanh thiết bị Vi tính trên địa bàn tỉnh Đồng Nai về việc sử dụng tem hợp chuẩn. Là chuyên viên thực hiện quản lý hành chính công, và qua nắm tình hình sơ bộ từ một số đơn vị đã bị thanh tra, tôi nhận thấy việc thực hiện 2 quyết định trên có nhiều vướng mắc không thuyết phục về mặt chính sách công. Tôi đề nghị ông xem xét lại đối tượng thực hiện của 2 quyết định trên và cho ngưng ngay việc phạt vi phạm hành chính đối với các pháp nhân không hợp lý trong việc thực hiện trong 2 quyết định trên. Vấn đề cần xem xét cụ thể như sau: * Đối tượng quy định không chính xác: Chỉ các đối tượng có vai trò: Nhập khẩu và sản xuất trong nước các thiết bị trên mới phải thực hiện quyết định đăng ký hợp chuẩn Trong điều khoản đối tượng phải thực hiện các quyết định nêu trên, yêu cầu mọi thành phần liên quan đến quá trình quản lý, phân phối và sử dụng các thiết bị tin học đều phải tuân theo quyết định trên. Tuy nhiên, việc bất hợp lý ở đây đã thấy rất rõ: Không phải bất cứ thiết bị tin học nào (máy tính, máy chủ, hub, switch, router, PDA, máy điện thoại, cáp quang, cáp đồng, thiết bị xDSL...) nào có mặt trên thị trường sau thời điểm quyết định đều phải được đăng ký và dán tem hợp chuẩn. Nếu Thanh tra không nhìn thấy tem hợp chuẩn sẽ bị xử phạt hành chính và bị tịch thu tài sản. Việc ban hành chính sách hợp chuẩn là nhằm mục đích chuẩn hóa các thiết bị viễn thông trong nội bộ ngành (tiêu chuẩn Ngành TCN), giúp các thiết bị có thể kết nối và trao đổi với nhau dễ dàng theo sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên khi soạn thảo quyết định này, Bộ đã không khảo sát và nhận thức đầy đủ hậu quả của nó. * Sự vô lý việc thực hiện: Thanh tra Sở TTTT Đồng Nai phạt các đơn vị phân phối lại (từ nhà nhập khẩu), và người sử dụng thiết bị. Việc quản lý từ gốc (nhập khẩu và sản xuất) của Bộ sẽ đảm bảo thiết bị có mặt trên thị trường là hợp chuẩn. Việc phân phối nên được thông thoáng để thực hiện tốt chủ trương "kích cầu" của Chính phủ. Một khi sản phẩm có thể lưu hành, người dân sẽ không phải băn khoăn về đặc tính kỹ thuật của nó nữa. * Sự bất hợp lý của việc áp dụng các danh mục thiết bị hợp chuẩn trong thực tế: Việc ngành viễn thông sử dụng các thiết bị đầu cuối chung với các ngành nghề khác. Dẫu biết rằng, thiết bị viễn thông có hợp chuẩn thì mới có thể sử dụng chung với nhau được. Việc ban hành chuẩn là để khuyến nghị các đơn vị sản xuất và nhập khẩu biết họ cần phải đưa ra thị trường sản phẩm có đặc tính kỹ thuật phù hợp. tại Việt nam, hầu hết (Nếu không muốn nói là 100%) đều nhập khẩu công nghệ thông tin dưới nhiều hình thức, Bộ TTTT chỉ nên khuyến nghị thực hiện các danh mục thiết bị truyền dẫn và tuân theo các chuẩn quốc tế đã sử dụng (Các chuẩn này luôn có sự hiệu chỉnh liên tục theo thực tế). Thực tế tại Bưu điện Đồng nai, ông sẽ thấy hệ thống tổng đài được quy hoạch chắp vá như thế nào dù họ tuân theo các tiêu chuẩn ngành rất đầy đủ. Đã qua 2 năm để nhìn rõ các vướng mắc và có biện pháp khắc phục. Rất mong Bộ trưởng hiệu chỉnh các quyết định của mình để người dân bớt đi các chi phí hành chính và khuyến khích người dân phát triển Công nghệ thông tin theo định hướng của Chính phủ. Ngô Tuấn Hiển Phòng Nghiên cứu - Đào tạo, VP UBND tỉnh Đồng Nai.

Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông xin trả lời:
1. Quyết định số 44/2006/QĐ-BBCVT và các Quyết định liên quan:
- Quyết định số 44/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành « Quy định chứng nhận và công bố phù hợp tiêu chuẩn đối với sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông» .
- Quyết định số 45/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành « Danh mục sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông bắt buộc chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn »
-  Quyết định số 46/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành « Danh mục sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn ».
Các quyết định này chỉ quy định về chứng nhận và công bố phù hợp tiêu chuẩn, không quy định về « Tem hợp chuẩn ».
2. Hiện tại các Quyết định nêu trên đã hết hiệu lực thi hành và được thay thế bởi các Thông tư :
- Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT thay thế Quyết định số 44/2006/QĐ-BBCVT;
- Thông tư số 07/2009/TT-BTTTT thay thế Quyết định số 45/2006/QĐ-BBCVT;
- Thông tư số 08/2009/TT-BTTTT thay thế Quyết định số 46/2006/QĐ-BBCVT;
Bạn có thể tham khảo tại website của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc website của Cục Quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và truyền thông  www.ictqc.gov.vn.
3. Theo các quy định hiện hành, các thiết bị viễn thông và công nghệ thông tin không phải thực hiện việc dán “Tem hợp chuẩn”.

 

Độc giả: Nguyễn Minh Hạnh Phúc - Bình Thạnh TP HCM
Theo công văn số 1654 /BTTTT-ƯDCNTT , Về các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng kỹ thuật thì Hệ thống cổng thông tin điện tử có yêu cầu rõ trong nội dung Kỹ thuật . Vậy các Website của các sở ngành thì cần có yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng kỹ thuật như thế nào ? Hay cần có những tính năng như thế nào để có thể tích hợp được với Portal . Các website Open Source như Joomla , Nuke của một số đơn vị đang dùng co đáp ứng yêu cầu hay không ? Mong Bộ TT và TT sớm giải thích giùm tôi. Thanks !

Cục Ứng dụng CNTT & TT trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Cảm ơn câu hỏi của bạn, đây là một vấn đề khi Tỉnh xây dựng hệ thống cổng thông tin điện tử. Các website của các sở, ngành khi triển khai được xem là các cổng thành phần (sub portal), là một bộ phận của hệ thống cổng thông tin điện tử của tỉnh được xác định theo yêu cầu về thông tin và dịch vụ cần cung cấp, trao đổi với cổng thông tin điện tử nhằm tạo thành một hệ thống cổng thông tin điện tử thống nhất.

Ngày 27/5/2008, Bộ Thông tin và Truyền thông có công văn số 1654/BTTTT-ƯDCNTT hướng dẫn tính năng, chức năng kỹ thuật cơ bản cho hệ thống cổng thông tin điện tử. Ngày 23/10/2009, Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục hướng dẫn bổ sung, điều chỉnh một số điểm tại công văn số 1654/BTTTT-ƯDCNTT tại công văn số 3386/BTTTT-ƯDCNTT. Theo đó, hệ thống cổng thông tin điện tử bao gồm phần trình diễn thông tin và giao diện cung cấp dịch vụ trên cổng của tỉnh và trên các cổng thành phần của các sở, ngành được trình bày bằng các trang HTML (trang web),  các trang web này là phương tiện để người sử dụng đầu cuối thông qua các kênh thông tin và kênh dịch vụ trao đổi thông tin, dữ liệu với các ứng dụng bên dưới. Các ứng dụng này có thể triển khai tập trung hoặc phân tán, và được liên kết, tích hợp trên cơ sở một nền tảng thống nhất là thành phần cổng lõi của hệ thống cổng thông tin điện tử theo nhu cầu trao đổi thông tin và nghiệp vụ. Cụ thể, trường hợp các website của sở, ngành sử dụng các ứng dụng bên dưới được triển khai tập trung, đồng bộ với cổng thông tin điện tử của tỉnh sẽ tuân theo các yêu cầu tích hợp kỹ thuật của giải pháp thành phần cổng lõi; trường hợp các website của các sở, ngành triển khai độc lập, nằm ngoài cổng thông tin điện tử của tỉnh, các ứng dụng bên dưới có thể sử dụng dịch vụ web (web service, WSRP) hoặc thu thập thông tin tự động (RSS, ATOM) để thu thập, trao đổi, tích hợp với các ứng dụng bên dưới của cổng thông tin điện tử của tỉnh dựa trên các tính năng sẵn có của thành phần cổng lõi. Các trường hợp này có thể tham khảo hướng dẫn tại công văn số 3386/BTTTT-ƯDCNTT. Đối với các website open source (Joomla, Nuke, ...) như bạn đề cập cần quan tâm, lựa chọn phiên bản đáp ứng được các chuẩn thu thập, trao đổi và tích hợp thông tin nói trên hoặc chủ động triển khai tính năng này cho các ứng dụng bên dưới của website sở, ngành.

Về chức năng, các website nói chung của cơ quan nhà nước, trong đó có website của các sở ngành, cũng như trang web của cổng thông tin điện tử của tỉnh cần tuân thủ các quy định tại Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 và tham khảo công văn số 1654/BTTTT-ƯDCNTT, công văn số 3386/BTTTT-ƯDCNTT ở trên.

Chúc bạn thành công!

Độc giả: Le Thi Kim Kha - 74-76 Nguyen Hue, Q.1, Tp.HCM
Công ty tôi có nhập Hệ thống máy phát FM. Trong đó có máy phát sóng anten và cáp đi kèm. Theo thông tư số 85/2003/TT-BTC thì Công ty chúng tôi phải xin văn bản xác nhận của cơ quan quản lý chuyên ngành là Bộ Thông tin và Truyền thông các thiết bị trên là 1 hệ thống đồng bộ để được áp theo mã thuế của máy chính là máy phát sóng. Hiện nay, chúng tôi đang rất lúng túng vì hàng sắp về đến Sân bay Tân Sơn Nhất mà không biết thủ tục xin giấy phép này ra sao và nộp ở đâu. Kính nhờ Quý Anh, Chị hướng dẫn giúp, chúng tôi xin chân thành biết ơn. Le Thi Kim Kha Cong ty CP XNK Điện Tử Việt

Vụ Khoa học công nghệ trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Chào chị Kha,
Trả lời cho câu hỏi của chị về thủ tục xin xác nhận đồng bộ hệ thống thiết bị nhập khẩu, chúng tôi có hướng dẫn chi tiết kèm theo. Chúc chị sớm hoàn thành hồ sơ gửi Bộ TT&TT trong thời gian sớm nhất.
Trân trọng.

Hướng dẫn thủ tục xin xác nhận đồng bộ hệ thống thiết bị nhập khẩu

Để có công văn xác nhận của Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan chị cần gửi Bộ TT&TT các tài liệu sau:
1. Công văn đề nghị xác nhận đồng bộ cho hệ thống thiết bị nhập khẩu.
2. Danh mục thiết bị nhập khẩu
3. Hồ sơ liên quan.

Cụ thể như sau:

1.  Nội dung công văn đề nghị xác nhận đồng bộ cho hệ thống thiết bị nhập khẩu cần có các điểm chính sau:
- Xác định thiết bị chính
- Xác định mã số thuế áp cho máy chính
- Cam kết tính chân thực của việc kê khai danh mục thiết bị và các tài liệu kèm theo

2. Danh mục thiết bị nhập khẩu bao gồm:
- Thiết bị chính
- Các thiết bị phụ trợ
- Phần mềm (nếu có)
- Thiết bị dự phòng (nếu có)
Nội dung danh mục khai rõ tên thiết bị, số lượng, xuất xứ.

3. Hồ sơ liên quan bao gồm:
- Quyết định phê duyệt dự án
- Quyết định phê duyệt kết quả thầu
- Quyết định phê duyệt kết quả/Biên bản họp thương thảo hợp đồng
- Hợp đồng ủy thác (nếu có)
- Hợp đồng mua bán thiết bị
- Các giấy tờ khác có liên quan

Địa chỉ nhận hồ sơ:
Bộ Thông tin và Truyền thông, 18 Nguyễn Du, Hà Nội

Độc giả: Huỳnh Thị Thu Thuỳ - TDP2,TT La Hà,Tư nghĩa,Quảng Ngãi
Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông: Thông tư LT 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT và Thông tư 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA dựa trên Nghị định 55/2001/NĐ-CP,nay Nghị định 97/2008/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định 55/2001/NĐ-CP, hiện nay 2 Thông tư này còn hiệu lực không? Nếu còn thì khi nào có Thông tư thay thế 2 thông tư này? Xin chân thành cảm ơn khi nhận được phúc đáp!

Vụ Viễn thông xin trả lời câu hỏi của bạn:

Câu hỏi của bạn Thu Thùy có nội dung trùng với câu hỏi của bạn: Lê Thị Loan-Phường 4,TX Đông Hà, Quảng Trị-thangthuyserver@zing.vn Chúng tôi xin trả lời chung cho 2 câu hỏi của các bạn như sau:

Ngày 28/8/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 97/2008/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 55/2001/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào thay thế hai Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT và số Thông tư 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA và cũng chưa có Qui định nào hủy bỏ hai Thông tư liên tịch này. Vì vậy, theo qui định của pháp luật hiện hành, những nội dung của hai Thông tư liên tịch này nếu không trái/mâu thuẫn với Nghị định 97/2008/NĐ-CP thì vẫn còn hiệu lực.  
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang phối hợp với các Bộ ngành liên quan để dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý trò chơi trực tuyến thay thế cho Thông tư 60 và Bộ Công an đang chủ trì xây dựng Thông tư hướng dẫn về công tác đảm bảo an ninh thông tin trong hoạt động Internet. Trong khi chưa có văn bản thay thế, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, đại lý Internet và người sử dụng Internet vẫn cần phải nghiêm chỉnh tuân thủ qui định của hai Thông tư trên (các quy định không trái/mâu thuẫn với Nghị định 97/2008/NĐ-CP).

Độc giả: Dương Đặng Hoàng Yến - 49 Lê Trung Nghĩa, P.12, Q. Tân Bình, Tp. HCM
Kính gửi: Cô/chú, Công ty cháu có trang web www.vietpaper.com.vn thực hiện đưa các bản tin về tình hình thị trường cũng như các thông tin về đầu tư, công nghệ của ngành Giấy Việt Nam và thế giới. Cháu muốn hỏi: Thủ tục đăng ký bản quyền cho các thông tin được đưa lên trên trang web này. Mong cô/chú trả lời sớm giúp cháu.

Vụ Khoa học công nghệ xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Bạn cần chú ý là “tin tức thời sự thuần tuý đưa tin” không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả (theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Điều 15). Nếu bạn xét thấy nội dung thông tin đăng tải trên trang web của bạn không thuộc dạng này thì bạn cần xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho nội dung website. Hồ sơ gửi tới Cục bản quyền tác giả, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Chi tiết về hồ sơ được nêu trong Nghị định 100/2006/NĐ-CP  Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Điều 50). Cụ thể hồ sơ gồm:

- Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả (theo mẫu)

Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả phải được viết bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên. Nếu pháp nhân nộp đơn thì phải ký tên đóng dấu theo quy định.

- Tác phẩm đăng ký quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm, 2 bản

Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc và những loại hình tương tự, tác phẩm trong hồ sơ đăng ký là bản thiết kế, phác thảo hoặc ảnh chụp (đen trắng) thể hiện đầy đủ ý tưởng sáng tạo.

- Giấy tờ tùy thân (CMT, hộ chiếu) của người đến nộp hồ sơ

Ngoài các giấy tờ quy định trên, nếu người nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả là người được ủy quyền; chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thì phải có giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp. Các giấy tờ này nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt có dấu công chứng nhà nước.

- Lệ phí

Độc giả: Trần Quốc Thành - Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai
Trường hợp ông A có thẻ Nhà báo thuộc cơ quan Báo Văn hóa, có được làm phó 1 cơ quan báo chí khác (Tạp chí Văn nghệ Gia Lai) và làm Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật Gia Lai không?

Cục Báo chí xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

- Căn cứ khoản 1, Điều 12 Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí thì người đứng đầu cơ quan báo chí chỉ được đảm nhiệm chức vụ này ở một cơ quan báo chí

- Căn cứ khoản 3, Điều 6 Nghị định 51/CP thì người đứng đầu cơ quan chủ quản báo chí, người được cử thay mặt cơ quan chủ quản theo dõi, chỉ đạo cơ quan báo chí không được kiêm nhiệm chức vụ người đứng đầu cơ quan báo chí.

Chiểu theo các quy định trên thì ông A có quyền vừa công tác tại báo Văn hóa nhưng vẫn có thể giữ chức vụ Phó TBT tạp chí Văn nghệ Gia Lai ( trừ trường hợp trong hợp đồng lao động giữa ông A với báo Văn hóa và tạp chí Văn nghệ Gia Lai có điều khoản quy định ông A chỉ được làm việc ở một cơ quan báo chí)

Độc giả: Dương quốc kỳ - sn 29 228/20 kinm giang
Kính thưa Ban Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông. Tôi xin cảm ơn trước các bạn vì đã mở ra mục Hỏi đáp cho tôi được bày tỏ nỗi băn khoăn thắc mắc của mình. Tôi có câu hỏi sau muốn hỏi các bạn: - Chúng tôi làm về lĩnh vực các thiết bị liên lạc và an toàn cho hầm mỏ. Nhưng khi chúng tôi lắp đặt xong một hệ thống liên lạc cho hầm mỏ có tần số truyền dẫn là 250khz. Nay tôi lại biết được một thông tin là hệ thống liên lạc dưới mặt đất của sân bay nội bài cũng sử dụng tần số này (250khz) đã được cấp phép. Vậy tôi muốn biết thông tin về việc cấp phép trên của sân bay nội bài có đúng không. Nếu đúng thì các bạn gửi cho tôi văn bản cấp phép đó được không (theo địa chỉ email của tôi hay địa chỉ khác do các bạn qui định) và hệ thống liên lạc trong hầm mỏ của chúng tôi có được phép hoạt động không vì hệ thống của chúng tôi có các thiết bị phát tín hiệu với công suất thấp tín hiệu chỉ thu được trong bán kính 10 m và nó đảm bảo an toàn dưới điều kiện hầm mỏ. Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn và rất mong sự hồi đáp nhanh của các bạn để cho chúng tôi biết và khắc phục !

Cục Tần số vô tuyến điện xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Căn cứ quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia (Quyết định số 336/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phổ tấn số vô tuyến điện quốc gia) tần số 250kHz nằm trong đoạn băng tần được quy hoạch cho nghiệp vụ Vô tuyến dẫn đường hàng không và nghiệp vụ Lưu động hàng không. Do đó, các thiết bị vô tuyến điện không thuộc nghiệp vụ trên sẽ không được xem xét cấp giấy phép sử dụng tần số này.
Trong thư, bạn chưa nói rõ về hệ thống thiết bị dự kiến sử dụng như thế nào nên Cục Tần số không thể trả lời chính xác về khả năng cấp phép cho hệ thống này.
Về nguyên tắc, để được cấp phép sử dụng tần số, bạn cần chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ liên quan gửi đến Cục Tần số vô tuyến điện để được xem xét (chi tiết có thể tham khảo tại trang web http://www.rfd.gov.vn của Cục tần số vô tuyến điện, phần Hướng dẫn cấp phép hoặc liên lạc qua điện thoại theo số 04.35564870). Căn cứ vào hồ sơ gửi đến, Cục Tần số vô tuyến điện sẽ trả lời chính thức về khả năng cấp phép cho bạn.
Thiết bị phát sóng vô tuyến điện của bạn chỉ được phép hoạt động sau khi có giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện.

Độc giả: Lê Cường -
Xin cho biết tên 10 doanh nghiệp đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông.

Vụ Viễn thông xin trả lời bạn như sau:

Xin chào bạn Lê Cường, bạn có thể tham khảo thông tin này website Bộ Thông tin và Truyền thông, mục Thông tin thống kê hoặc truy nhập vào địa chỉ sau :

http://mic.gov.vn/vn/newsdetail/solieuthongke_vienthong/4674/index.mic

Trân trọng,

Độc giả: Trần Đình Hơn - Phan Thiết - Bình Thuận
Tôi có một vấn đề khó giải quyết. Nội dung như sau: Trước đây các Dự án CNTT vận dụng định mức để tính đơn giá ngày công theo Đề án 112/CP. Hiện nay Đề án này đã dừng thực hiện, các Dự án CNTT lấy định mức nào để tính toán Định mức và đơn giá. Tôi đang triển khai một số nội dung công việc liên quan đến xây dựng phần mềm (cụ thể là xây dựng phần mềm GIS). Nhưng không biết áp dụng định mức nào cả. Quí Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Văn bản pháp quy nào đã quy định chưa? Rất mong sự hồi âm. Trân trọng.

Chào bạn Trần Đình Hơn, câu hỏi của bạn có nội dung trùng với câu hỏi của bạn Nguyễn Minh Hạnh (Hà Đông, Hà Nội) mà Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hồng đã trả lời trong buổi trả lời trực tuyến của Bộ Thông tin và Truyền thông với chủ đề "Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phát triển Chính phủ điện tử" ngày 19/12/2008. Bạn có thể xem lại toàn bộ phần trả lời của buổi trả lời trực tuyến này. Nhân đây, chúng tôi xin trích đăng toàn bộ câu hỏi và câu trả lời nêu trên để bạn tham khảo:

Câu hỏi:

Việc triển khai dự án ứng dụng CNTT với các cơ quan nhà nước hiện tại gặp khó khăn trong việc định giá, xây dựng dự toán cho dự án. Được biết gần đây, Bộ TT&TT đã ra văn bản hướng dẫn liên quan đến vấn đề này. Nhưng tôi muốn hỏi Thứ trưởng là liệu văn bản này đã có thể sử dụng để định giá, lập dự toán dự án ứng dụng CNTT. Trong thời gian tới, Bộ có ra văn bản chính thức nào về vấn đề định giá đầu tư dự án ứng dụng CNTT không?

Trả lời:

Đúng như bạn nêu, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có công văn hướng dẫn phương pháp xác định giá trị phần mềm gửi tới các cơ quan liên quan nhằm tháo gỡ khó khăn về xây dựng, thẩm định dự án CNTT (Văn bản số 3364/BTTTT-ƯDCNTT ngày 17 tháng 10 năm 2008). Văn bản này chỉ áp dụng cho việc định giá phần mềm ứng dụng đặt hàng là vấn đề vướng mắc đã nhiều năm trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt các dự án CNTT.

Trong thời gian tới, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực CNTT. Dự kiến trong năm 2009, Bộ sẽ ban hành định mức tư vấn, thiết kết các dự án CNTT.

 

Độc giả: Nguyễn Công Thinh - 45 Phạm hồng Thái - TP Đà Lạt
Kính thưa ban quản trị, biên tập website Bộ TT-TT, Tôi tên Nguyễn Công Thịnh, là quản lý website: http://www.y5cafe.info là một trang tin cung cấp tình hình giá cả thị trường cà phê cho bà con nông dân trong cả nước với tất cả tấm lòng tự nguyện và hoàn toàn miễn phí. Y5cafe trên đã được một số báo chí đăng tải: http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/5662/;http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200842/20081015173520.aspx; http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=144708&ChannelID=4 Cách đây hơn một năm do bức xúc với cung cách làm ăn chèn ép bà con nông dân trồng cà phê nên tôi cùng một số bà con nông dân đứng ra lập website Y5cafe để mang thông tin giá cả thị trường, bảng giá cà phê thị trường thế giới đến bà con nông dân. Hiện nay trên mạng có rất nhiều website cung cấp thông tin với chi phí hàng tháng từ 800.000 - 1.000.000 đồng. Bà con khốn khổ tiền đâu mua tin, mua bảng giá, các đại lý, công ty xuất nhập khẩu là những người nắm tình hình thị trường bưng bít thông tin để chèn ép bà con nông dân. Hơn 1 năm nay từ khi Y5cafe ra đời bà con không hết vui mừng vì từ nay sẽ chủ động nắm tình hình giá cả, không bị con buôn đại lý ép gía thuận lợi trong công việc mua bán. Và cũng từ khi Y5cafe ra đời không ít kẻ bán tin cà phê có ý tỵ nạnh vì sự phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, một phần cắt đi nguồn lợi đáng kể của các webite bán tin. Gần đây trang web http://www.chocaphe.com do Nguyễn Thành Công (biệt danh DanTruongX) là chủ mưu của những vụ tấn công thương mại điện tử vào những năm trước cầm đầu. Bọn chúng dùng mọi hình thức thủ đoạn để tấn công Y5cafe, làm tê liệt hoạt động mang thông tin đến bà con của Y5cafe. Vì kiếm tiền mà bọt tin tặc bỉ ổi dùng mọi hình thức để chống phá Y5cafe, cản trở việc mang thông tin đến cho bà con nông dân. Hiện nay Y5cafe hoàn toàn tê liệt dưới sự tấn công liên tục của DanTruongX, bà con nông dân hết sức căm phẫn. Nhưng với kiến thức của mình những người nông dân làm sao chống lại được kẻ xấu. Chúng tôi đã chạy đôn chạy đáo nhờ vả các cá nhân tổ chức Tin học giúp đỡ, nhưng hiện tại Y5cafe vẫn trong tình trạng tê liệt. Chúng tôi rất mong Nhà nước và Chính phủ, Bộ thông tin và truyền thông có một giải pháp nhàm bảo vệ chúng tôi những người nông dân, bảo vệ nguồn thông tin của chúng tôi trước kẻ xấu. Một sự thành khẩn và tha thiết nhờ vả các ban ngành. Thay mặt bà con: Nguyễn Thịnh

Chào bạn!

Nếu bạn gặp loại tấn công ngoài tầm năng lực phòng thủ của bạn hoặc không thể chống đỡ (như DDOS chẳng hạn) bạn có thể sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ an toàn thông tin chuyên nghiệp hoặc liên hệ với Trung tâm Ứng cứu Khẩn cấp Máy tính Việt Nam (VNCERT), địa chỉ liên hệ có trên website "http://www.vncert.gov.vn". Khi thông báo sự cố bạn cần đưa thông tin cụ thể về người gửi để Trung tâm phản hồi và kiểm chứng. Trung tâm VNCERT sẽ xử lý các đề nghị giúp đỡ xử lý sự cố theo đúng quy trình và tuỳ theo đặc điểm của sự cố sẽ có các mức hỗ trợ khác nhau như: tư vấn từ xa, yêu cầu ISP hỗ trợ hay trực tiếp xử lý sự cố.

Trong trường hợp bạn đã có đủ chứng cứ xác định thủ phạm tấn công website "Y5cafe" thì bạn có thể liên hệ với Phòng chống tội phạm công nghệ cao-Cục C15, Bộ CA để tố cáo hành vi vi phạm của đối tượng; khi đó bạn cần đưa ra những văn bản pháp lý và bằng chứng hợp pháp.

Trung tâm Ứng cứu Khẩn cấp Máy tính Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền thông)
18 Nguyễn Du, Hà Nội
Tel: (04) 36.404.423         Fax: (04) 36.404.425

Độc giả: Đỗ Mạnh Quyết - Hoài Đức - Hà Tây
Tôi muốn đăng ký Bản quyền về Nội dung và các Dịch vụ của một Website có được không? Nếu được thì cần những thủ tục gì? Rất mong có được câu trả lời sớm nhất. Tôi xin chân thành cám ơn! Đỗ Mạnh Quyết.

Vụ Pháp chế và Vụ Khoa học công nghệ xin trả lời bạn như sau:

a) Để đăng ký bản quyền về nội dung của website, bạn cần xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả. Hồ sơ cần gửi tới Cục bản quyền tác giả, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Chi tiết về hồ sơ được nêu trong Nghị định 100/2006/NĐ-CP. Cụ thể hồ sơ gồm:
- Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả (theo mẫu)
Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả phải được viết bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên. Nếu pháp nhân nộp đơn thì phải ký tên đóng dấu theo quy định.
- Tác phẩm đăng ký quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm, 2 bản
Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc và những loại hình tương tự, tác phẩm trong hồ sơ đăng ký là bản thiết kế, phác thảo hoặc ảnh chụp (đen trắng) thể hiện đầy đủ ý tưởng sáng tạo.
- Giấy tờ tùy thân (CMT, hộ chiếu) của người đến nộp hồ sơ
Ngoài các giấy tờ quy định trên, nếu người nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả là người được ủy quyền; chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thì phải có giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp. Các giấy tờ này nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt có dấu công chứng nhà nước.
- Lệ phí
b) Để đăng ký sở hữu trí tuệ dịch vụ trong website, bạn cần đăng ký sáng chế và thiết kế bố trí tại Cục sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Chi tiết thủ tục nêu trong Nghị định 105/2006/NĐ-CP. Cụ thể là:
- Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
- Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ
- Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
- Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác;
- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
- Chứng từ nộp phí, lệ phí.

Độc giả: nguyen van dung - thi cau bac ninh
Tôi đã vào phần http://support.vnn.vn và tiếp theo là trang http://unicraft.com.vn nhưng không có phần để tải chương trình quản lý internet cho các đại lý vậy tôi rất mong được hướng dẫn cụ thể phần mềm quản lý đó được tải về để sử dụng ở link nào? Xin trân trọng cảm ơn.

Vụ Viễn thông xin trả lời bạn như sau:

Theo qui định của pháp luật hiện hành, Bộ TT&TT chỉ xem xét chứng nhận phần mềm quản lý đại lý của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đã được cấp phép. Mỗi doanh nghiệp thường có hệ thống phần mềm quản lý đại lý riêng áp dụng cho các đại lý của mình. Vì vậy tùy theo việc bạn là đại lý Internet của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet nào thì liên hệ với doanh nghiệp đó để được hướng dẫn về việc tải, cài đặt và cách thức sử dụng phần mềm quản lý đại lý Internet.

Độc giả: Đậu Xuân Ngọc - 185/5 Nguyễn Văn Lượng, P. 17, Q. Gò Vấp
http://hocsinhlentieng.com/forum Site này được cấp giấy phép đàng hoàng mà hình như không quản lý chặt chẽ lắm thì phải. Những bài viết mang tính kích động những vấn đề chính trị mà lại không thấy quản lý. Hi vọng cơ quan chức năng xem xét? Dạo gần đây, tôi có vào xem một diễn đàn, http://hocsinhlentieng.com Nội quy diễn đàn được đưa ra, xem đây là nơi bày tỏ bức xúc của học sinh đối với những trường hợp không đúng trong giáo dục nước nhà. "Diễn đàn "Học Sinh Lên Tiếng" là nơi để thảo luận ,nói lên những Điểm Đen trong giáo dục,và những bức xúc , nỗi oan của học sinh . cũng như các hành vi gian lận." Tôi cũng cảm thấy vui mừng vì đã có một sân chơi cộng đồng dành cho tiếng nói của học sinh - sinh viên. Tuy nhiên, khi vào xem thì tôi thấy nội dung chủ yếu là chỉ trích, phản bác, sách động chống lại tư tưởng lãnh đạo của Đảng cộng sản và Nhà nước, xuyên tạc để bôi nhọ các vị lãnh đạo cũng như đường lối của Nhà nước. Tôi cảm thấy sự mờ ám trong hoạt động của diễn đàn này, và nay tôi viết thư này gửi đến cơ quan chức năng, hi vọng sẽ có biện pháp khắc phục, tránh gây những hậu quả đáng tiếc.

Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời  câu hỏi của bạn như sau:

Có 2 câu hỏi liên quan đến trang http://hocssinhlentieng.com.forum.

Cho đến thời điểm hiện nay, Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử chưa hề tiếp nhận hồ sơ và cấp phép cho trang thông tin điện tử nào có tên miền http://hocssinhlentieng.com.
Qua kiểm tra thông tin về địa chỉ IP cho thấy đây là địa chỉ IP của một cá nhân ở nước ngoài và Server cũng được đặt tại nước ngoài (Hoa Kỳ).
Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử sẽ chuyển những thông tin liên quan đến trang http://hocssinhlentieng.com.forum đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền để xem xét, xử lý.

Độc giả: Lê Hùng - Đà Nẵng
Đề nghị Quý Bộ hướng dẫn việc cài đặt bộ Openoffice.org 2.2.1, vì hiện nay tôi đã tải về và cài đặt trên máy, nhưng không hiển thị tiếng Việt trên thanh công cụ được. Mong được sớm trả lời. Xin cảm ơn.

Vụ CNTT xin trả lời bạn như sau:

Chào bạn Hùng, việc bạn đã tải về và cài đặt trên máy bộ Openoffice.org 2.2.1, nhưng không hiển thị tiếng Việt trên thanh công cụ được là do bộ Openoffice.org 2.2.1 chưa có phiên bản Việt hóa (cho nên thanh công cụ chỉ hiển thị tiếng Anh, chứ không chọn được giao diện tiếng Việt).
Hiện nay sản phẩm OpenOfice đã có phiên bản 3.0.0 đã được Việt hoá. Bạn có thể tải phiên bản Việt hóa của OpenOffice 3.0.0 trực tiếp từ địa chỉ http://vi.openoffice.org về để cài đặt, hoặc nếu bạn đã cài đặt bản OpenOffice 3.0.0 phiên bản tiếng Anh rồi, thì chỉ cần tải gói ngôn ngữ tiếng Việt tại địa chỉ trên về để cài bổ sung.
- Các trang web để tải phiên bản tiếng Anh của OpenOffice 3.0.0:

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/openoffice/stable/
http://download.openoffice.org/other.html#fr
- Tải các gói ngôn ngữ từ trang: http://distribution.openoffice.org/p2p/
(Chọn Windows + 3.0.0 + langpack vi only)

Hiện chúng tôi đã cập nhật phiên bản mới nhất của OpenOfice lên trang web của Bộ tại địa chỉ http://mic.gov.vn/details.asp?Object=211054830&news_ID=311237994, để phục vụ tất cả những những ai quan tâm tới bộ sản phẩm này.

Độc giả: Lại Thanh Sang - Tp.HCM
- Website 48h.vn lấy thông tin cá nhân của tôi với tư cách là người quản trị website (web admin) để đăng ký xin giấp phép của bộ (Giấy phép số: 11/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 24/07/2008 - Chịu trách nhiệm: Ông Trương Minh Hải) - Tôi không phải là nhân viên của 48h.vn, mà là nhân viên của cty TNHH TM DV Me Kong Viet (với tư cách là công ty chịu trách nhiệm quản trị website cho 48h, nhưng thực tế, 48h không thuê Me Kong Viet quản tri web như khi đề nghị tôi cung cấp sơ yếu lý lịch để bổ sung) - Hiện nay tôi đã nghỉ việc ở Me Kong Viet nên muốn thu lại thông tin cá nhân đã cấp cho 48h (vì thực tế 48h.vn có dấu hiệu lợi dụng tôi đứng tên kỹ thuật để hoàn thành hồ sơ xin cấp phép) - Xin hỏi thủ tục và đề nghị xem xét lại 48h.vn.

Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời  câu hỏi của bạn như sau:

Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử nhận được hồ sơ đăng ký cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên internet của Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Huy Trân. Qua thẩm định hồ sơ và đối chiếu với các quy định của pháp luật về cấp giấy phép thiết lập trang tin điện tử hiện hành, ngày 24 tháng 7 năm 2008, Cục đã cấp giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên internet số 11/GP-TTĐT cho Công ty Thương mại - Dịch vụ Huy Trân với tên miền www.48h.vn, www.thuongmaidichvu.vn, người chịu trách nhiệm chính nội dung trang tin là người đại diện theo pháp luật của DN, Giám đốc Trương Minh Hải.

Căn cứ theo các quy định về hồ sơ đăng ký cấp giấy phép thì hồ sơ của Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Huy Trân phù hợp với các quy định. Việc DN lấy thông tin của anh Lại Thanh Sang trong hồ sơ xin đăng ký cấp phép thì người đại diện theo pháp luật của Công ty hoàn toàn phải chịu trách nhiệm.

Độc giả: Bùi Huy Phúc - 13, Hà Huy Tập, Quy Nhơn, Bình Định
Bộ thông tin và truyền thông đã ban hành Thông tư 13/2008/TT-BTTTT ngày 31/12/2008 v/v quản lý cơ quan đại diện, cơ quan thường trú báo chí. Nhưng không thấy BBT web đưa thông tin lên web. Vây Ban biên tập có thể gởi cho tôi file của Thông tư này không, cảm ơn.

Trung tâm Thông tin xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Chào bạn Bùi Huy Phúc, Cảm ơn bạn đã quan tâm, chúng tôi đã đưa Thông tư này lên website Bộ. Bạn có thể tham khảo tại địa chỉ:
http://mic.gov.vn/VBQPPL/vn/documentdetail/8628/index.mic

Trân trọng,

Độc giả: Bùi Xuân Hoàng - Phòng VH&TT Đồng Hới
Ban biên tập có thể ghi người đưa tin của tin về Quảng Bình kiểm tra có được không?

Trung tâm Thông tin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Chào bạn, chúng tôi sẽ lưu ý lần sau sẽ đăng đầy đủ tên của người đưa tin của các Sở. Xin cảm ơn bạn.

Độc giả: Phan Quang Hiếu - Tư Nghĩa - Quảng Ngai
Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông Tôi xin hỏi về Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, đối với dịch vụ Internet và Thông tư hướng dẫn 05 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet đối với dịch vụ Internet đã có hiệu lực. Mà tới nay vẫn không được triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Vậy thì Nghị định 97/2008/NĐ-CP được Thủ tướng ký ban hành thay thế cho nghị định 55 mà tôi thấy vẫn nằm yên lặng không đươc triển khai vậy có đúng với nguyện vọng của cơ quan đứng đầu nhà nước không? Vậy xin nhận được trả lời từ Bộ TT&TT.

Vụ Viễn thông xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Ngay từ khi có hiệu lực, các văn bản nói trên đã được áp dụng trong công tác quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông, đặc biệt là công tác cấp phép. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã tổ chức đào tạo, hướng dẫn về Nghị định 97/2008/NĐ-CP cho các Sở Thông tin và Truyền thông từ trước cuối năm 2008, trong đó đặc biệt nhấn mạnh  một số công việc mà ở các địa phương cần triển khai. Đứng từ góc độ địa phương, ngoài việc tổ chức phổ biến pháp luật tới cộng đồng người sử dụng, thực thi quản lý các doanh nghiệp trên địa bàn thì một việc rất cần thiết phải triển khai sớm là tham mưu cho UBND tỉnh/thành qui định về giờ đóng mở cửa các đại lý Internet và thực thi công tác quản lý đại lý Internet theo Nghị định 97/2008/NĐ-CP.

Cảm ơn anh đã phản ảnh việc chậm triển khai tại Quảng Ngãi. Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ kiểm tra lại với Sở TT&TT Quảng Ngãi, đồng thời đôn đốc các Sở Thông tin và Truyền thông nhanh chóng triển khai Nghị định 97/2008/NĐ-CP.

Độc giả: thedownload -
Gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, Tôi khá bức xúc về chuyện đầu cơ tên miền của 2 công ty là dot.vn và công ty hi-tek (tôi chỉ biết đây cũng là 1 công ty cung cấp domain.vn của nước ngoài). Tôi có check nhiều Domain nhưng khi truy cập vào những Domain này thì đều chạy sang website dot.vn, còn những domain đưọc đăng ký bởi công ty hi-tek từ rất lâu nhưng đều không đuợc sử dụng thậm chí còn ko có website hay không được add vào bất cứ 1 hosting nào. Tôi có contact với nhân viên của dot.vn với email hanoi@dotvn.com thì được biết tất cả những domain đó đều thuộc quyền sở hữu của công ty hi-tek và dot.vn và họ không bán. Dot.vn là 1 công ty cung cấp domain.vn nhưng lại mua domain.vn và không sử dụng chúng vào bất cứ mục đích gì như vậy những domain này liệu có được thu hồi mong nhận được phản hồi sớm của Bộ Thông tin và Truyền thông. Nếu cần tôi sẽ liệt kê tất cả những domain đuợc đăng ký bởi 2 chủ thể này mà không được sử dụng. Cảm ơn.

Trung tâm Internet Việt Nam xin trả lời bạn như sau :

Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tên miền .vn từ trước đến nay chưa có điều nào quy định hạn chế số lượng tên miền mà các tổ chức cá nhân muốn đăng ký, điều này được cụ thể hóa hơn trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet và Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet. Theo các quy định tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT, tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" được đăng ký theo nguyên tắc: "bình đẳng không phân biệt đối xử; tổ chức, cá nhân đăng ký trước được quyền sử dụng trước". Như vậy Nhà đăng ký tên miền cũng như các tổ chức, cá nhân khác, tùy theo nhu cầu, có quyền được đăng ký tên miền mà mình mong muốn miễn là phải đảm bảo đáp ứng các thủ tục quy định và phải nộp đầy đủ các khoản phí, lệ phí theo quy định của nhà nước. Người đăng ký sẽ phải chịu trách nhiệm về mục đích sử dụng cũng như tính chính xác của các thông tin cung cấp, đảm bảo việc đăng ký không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.

Vấn đề mà bạn phản ánh, nếu những tên miền bạn đã nêu có xung đột với quyền, lợi ích hợp pháp của bạn, bạn có thể yêu cầu giải quyết thông qua các quy định về tranh chấp tên miền tại Luật Công nghệ thông tin và Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam ".vn". Việc thu hồi tên miền được thực hiện theo quy định tại điểm 8.3 khoản 8, mục II của Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT.

 

Độc giả: lưu công hoan - hà nội
Xin cho biết tiêu chuẩn để bổ nhiệm đối với chức danh Tổng biên tập ?

Cục Báo chí xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

* Theo quy định tại Điều 13 Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí thì Tổng biên tập phải là người có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ do Nhà nước quy định.

* Theo Điều 6, Quyết định số 75-QĐ/TW ngày 21/8/2007 của Ban Bí thư ban hành Quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí thì Tổng biên tập phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Tốt nghiệp đại học;
- Đã được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí và chương trình quản lý nhà nước về báo chí;
- Có trình độ lý luận chính trị cao cấp;
- Có thời gian hoạt động trong lĩnh vực báo chí ít nhất là 3 năm;
- Có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực quản lí và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, được sự tín nhiệm của cán bộ, phóng viên, đảng viên trong cơ quan báo chí.

* Luật Báo chí sửa đổi sẽ ban hành trong thời gian tới cũng đưa quy định cụ thể về “Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của người đứng đầu cơ quan báo chí”.

Độc giả: Đỗ Văn Vương - 19 Lê Hồng Phong Đà Lạt
Trong quy chế báo cáo thông tin ban hành kèm theo quyết định số 58/2008/QĐ-BTTTT ngày 30/12/2008 của Bộ TT&TT có sai sót tại Điều 6: Báo cáo thực hiện theo mẫu số 2 chứ không phải theo mẫu số 1. Đề nghị xem xét lại.

Cục ứng dụng Công nghệ Thông tin trả lời:

Xin cảm ơn bạn Vương. Chúng tôi đã kiểm tra lại và nhận thấy phát hiện của bạn hoàn toàn chính xác. Chúng tôi xin nhận sai sót này và thành thật cảm ơn bạn.
Trong Khoản 1, Điều 6 của Quy chế Báo cáo thông tin về các hoạt động chứng thực chữ ký số của các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số (Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2008/QĐ-BTTTT ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông) viết là:
"Báo cáo thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quy chế này".
Nay xin sửa lại là:
"Báo cáo thực hiện theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Quy chế này"
Chúng tôi sẽ thực hiện đính chính lại theo Điều 8 của Quyết định số 06/2008/QĐ-BTTT ngày 18/3/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông Ban hành Quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành, rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật.

Độc giả: Công ty TNHH Gia Tuệ - 266 Điện Biên Phủ Thành Phố Huế
Đơn vị tôi muốn mở kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong lãnh thổ Việt Nam . Cần có thủ tục gì để đăng ký kinh doanh dịch vụ trên? và đăng ký ở đâu ?

Vụ Bưu chính xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam muốn kinh doanh  dịch vụ chuyển phát trong lãnh thổ Việt Nam, trước hết, phải đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp (dịch vụ chuyển phát, dịch vụ chuyển phát nhanh ...).
1. Trường hợp kinh doanh dịch vụ chuyển phát kiện, gói hàng hoá, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Bộ Thông tin và Truyền thông đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát hàng hoá trong phạm vi liên tỉnh/trong nước hoặc với Sở Thông tin và Truyền thông đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát hàng hoá trong phạm vi nội tỉnh/tp trực thuộc TW).
Hồ sơ thông báo gồm: Văn bản thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát; Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển phát hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ chuyển phát tại Việt Nam; Mẫu hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ; Bảng giá cước, chất lượng dịch vụ, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp phát sinh thiệt hại.
2. Trường hợp muốn kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư, doanh nghiệp phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (Bộ Thông tin và Truyền thông đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư trong phạm vi liên tỉnh/trong nước hoặc với Sở Thông tin và Truyền thông đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư trong phạm vi nội tỉnh/tp trực thuộc TW).
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư gồm: Đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư; Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển phát hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ chuyển phát tại Việt Nam; Đề án kinh doanh; Mẫu hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ; Bảng giá cước, chất lượng dịch vụ, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp phát sinh thiệt hại.
Bạn có thể tìm đọc các quy định quy định cụ thể về kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong Nghị định 128/2007/NĐ-CP ngày 2/8/2007 về dịch vụ chuyển phát và Thông tư 08/2008/TT-BTTTT ngày 23/12/2008 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 128/2007/NĐ-CP trên website của Bộ Thông tin và Truyền thông www.mic.gov.vn.

Độc giả: Diệp - 483/A2 hiệp hoà, biên hoà, đồng nai
Xin chào!!! Tôi muốn biết doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là doanh nghiệp nào ?

Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Khoản 14, Điều 3, Nghị định Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ-CP quy định về dịch vụ mạng xã hội trực tuyến như sau:
“14. Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác”.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là doanh nghiệp cung cấp một trong các dịch vụ nêu trên.

Độc giả: Lê Hồng Khai - Đà Nẵng
Bộ Thông tin và Truyền thông đã có giải pháp gì trong việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng CNTT - VT ở khu vực các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên trong vài năm tới ? Chiến lược phát triển (đào tạo, sử dụng ...) lâu dài về nguồn nhân lực CNTT để đáp ứng nhu cầu ? XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN !

Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông trả lời:

Trước sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin và truyền thông trên thế giới, việc đẩy nhanh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt nam là một việc làm hết sức cấp bách.
Khu vực miền Trung và Tây nguyên là vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có những giải pháp đặc thù để đẩy nhanh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông trong Vùng.
Để đặt cơ sở pháp lý cho việc phát triển CNTT&TT khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Bộ Bưu chính Viễn thông trước đây, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông đã sớm ban hành các văn bản sau: Quyết định số 13/2007/QĐ-BBCVT ngày 16/5/2007 phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin và truyền thông vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 08/2007/CT-BBCVT ngày 01/8/2007 về thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ nông thôn; Kế hoạch phát triển thông tin và truyền thông tuyến biên giới Việt Nam – Lào và Việt Nam – Cămpuchia đến năm 2010 (trong đó có các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên).
Các văn bản trên, đặc biệt là bản Quy hoạch đã đưa ra các giải pháp cụ thể, thể hiện rõ quan điểm của Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc tạo cơ chế chính sách thuận lợi, thông thoáng cho đẩy nhanh ứng dụng và phát triển CNTT-TT vùng KTTĐ miền Trung, làm đầu tàu lan tỏa sự phát triển trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Về các giải pháp cụ thể khác, trên tinh thần “Năng lực quản lý phải theo kịp sự phát triển”, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với UBND các tỉnh, thành trong vùng kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và truyền thông. Tập huấn không ngừng nâng cao nhận thức, hiểu biết, trách nhiệm và năng lực ứng dụng CNTT cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước tại các địa phương. Tổ chức đào tạo cán bộ lãnh đạo thông tin đủ khả năng tập hợp lực lượng, tổ chức thực hiện thành công các dự án ứng dụng CNTT và Chính phủ điện tử trong các cơ quan nhà nước tại địa phương. Tập trung đầu mối quản lý và tổ chức triển khai các dự án ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông về các Sở Thông tin và Truyền thông.
Trên cơ sở đó, Bộ cũng đã phối hợp với UBND các tỉnh trong vùng chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông xây dựng và triển khai các dự án phát triển CNTT&TT trên địa bàn tỉnh. Tận dụng hiệu quả nguồn quỹ dịch vụ viễn thông công ích. Tuyên truyền nâng cao hiểu biết và khả năng khai thác các lợi ích mà CNTT đem lại cho người dân và các doanh nghiệp.
Về Chiến lược phát triển lâu dài nguồn nhân lực CNTT:
Một trong những yếu tố quyết định cho việc đẩy nhanh ứng dụng và phát triển CNTT&TT là phát triển nguồn nhân lực CNTT&TT lâu dài và bền vững, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu về số lượng mà cả về chất lượng. Nắm bắt được điều đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã sớm xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020, được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký quyết định phê duyệt ngày 26/10/2007 tại Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT.
Để có những thông tin cụ thể hơn về việc phát triển lâu dài nguồn nhân lực CNTT&TT (đào tạo, sử dụng và giải pháp phát triển), đề nghị bạn tham khảo thêm trong bản Quy hoạch trên.

Xin cảm ơn bạn đã quan tâm và đặt câu hỏi.

Độc giả: Le Thi Ai Vy - 19B Le Thi Rieng, Q.1, HCM
Kính gửi: Cơ quan chức năng Công ty chúng tôi muốn mở dịch vụ "Điện thoại Internet", vậy chúng tôi cần phải có những điều kiện gì để xin "Giấy phép" và các thủ tục ra sao. Vui lòng gửi tài liệu đính kèm. Kính nhờ cơ quan chức năng hướng dẫn. Xin chân thành cảm ơn và mong sớm nhận được thông tin từ Quý Ban ngành. Trân trọng! Ai Vy

Vụ Viễn thông xin trả lời bạn như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các doanh nghiệp chỉ được phép cung cấp dịch vụ điện thoại Internet loại hình PC-to-PC và PC-to-Phone chiều đi quốc tế.
Để được cung cấp các dịch vụ điện thoại Internet nêu trên, doanh nghiệp cần phải tiến hành các thủ tục xin cấp giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông. Điều kiện cấp phép và thủ tục cấp phép tuân theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại Internet ngoài quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải có thêm các trách nhiệm quy định tại Khoản 2 Thông tư 05/2008/TT-BTTTT ngày 12/11/2008 hướng dẫn Nghị định 97/2008/NĐ-CP (Có hệ thống tính cước, quản lý dữ liệu khách hàng, quản lý dịch vụ đặt tại Việt Nam do doanh nghiệp vận hành, khai thác để trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công cộng; Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến việc thanh toán cước sử dụng dịch vụ; xác minh được và trả lời chính xác các khiếu nại của khách hàng về giá cước, thẻ, chất lượng dịch vụ).

Độc giả: Trần phúc minh - Huyện châu đức
Cho tôi hỏi hiện nay áp dụng xử phạt hành chính theo thông tư số 03/TT-BBCVT ngày 29/6/2006 v.v Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư 05/2004/TT-BBCVT ngày 16/12/2004 về hướng dẫn thực hiện một số điều về xử lý vi phạm hành chính và khiếu nại, tố cáo quy định tại Chương IV Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet còn áp dụng được không?

Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông xin trả lời bạn như sau:

Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet hết hiệu lực kể từ ngày 27/9/2008. Đây là ngày Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet có hiệu lực thi hành.
Thông tư số 05/2004/TT-BBCVT ngày 16/12/2004 và Thông tư số 03/2006/TT-BBCVT ngày 29/6/2006 của Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) hướng dẫn Nghị định số 55/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Internet. Tuy nhiên, Luật số 17/2008/QH12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 không quy định việc hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ dẫn tới việc hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn nếu các quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn vẫn còn phù hợp. Có nghĩa là Luật số 17/2008/QH12 không quy định việc hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật đồng thời dẫn tới việc hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực đó. Do đó, việc hết hiệu lực của Nghị định số 55/2001/NĐ-CP không làm hết hiệu lực của 02 thông tư hướng dẫn nói trên nếu các nội dung hướng dẫn trong 02 thông tư này vẫn phù hợp với các quy định trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang trình Chính phủ ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định này thì việc xử phạt vi phạm hành chính về Internet sẽ áp dụng theo Nghị định mới. Trong khi chờ Chính phủ ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về Internet, việc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm các quy định trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP vẫn được áp dụng theo các Thông tư số 05/2004/TT-BBCVT ngày 16/12/2004 và Thông tư số 03/2006/TT-BBCVT ngày 29/6/2006 của Bộ Bưu chính, Viễn thông và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Trong khi áp dụng các thông tư này cần chú ý đến hiệu lực của các văn bản được dẫn chiếu. Ví dụ: Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại đã được thay thế bằng Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008….

Độc giả: Luong Gia Huy - Tây Ninh
Xin chào các vị lãnh đạo. Tôi xin được phép đề cập một số câu hỏi và những bức xúc của mình liên quan đến truyền hình số mặt đất. Như các vị cũng biết truyền hình số mặt đất là công nghệ tiên tiến, hiện nay có 3 đơn vị đang khai thác đó là BTV,VTC và HTV với tổng số 50 kênh truyền hình. Mặt khác tui còn được biết đây là dịch vụ truyền hình công ích(lời phát biểu của ông Giám đốc đài truyền hình Bình Dương). Vi người ham chuộng công nghệ nên tôi cùng gia đình cũng sắm cho mình một chiếc đầu thu VTC - T13 xem được nhiều kênh truyền hình hay và hấp dẩn. Mọi việc đều tốt đẹp nhưng khi VTC cho ra đời cái đầu thu gọi là VTC - D901 gì đó thì chúng tôi không thể xem một số kênh như: VTC3, VTC6, Airang, Austrailia Network......VTC tuyên bố rằng vì muốn ngăn chặn các đầu thu lậu, hàng giả, hàng nhái và vì muốn bảo vệ khách hàng nên mới tiến hành khóa mã các kêng trên. Chỉ có các đầu thu chính hãng mới thu được đầy đủ các chương trình. Nhưng tại sao đầu thu nhà tôi và nhiều người khác cũng không thu được. Nếu vậy thì chẳng khác nào VTC tuyên bố các đầu thu trước đây mà VTC cung cấp cho khách hàng cũng là đồ giả, đồ nhái và kém chất lượng sau??? Việc làm của VTC có thật sự là bảo vệ khách hàng hay chỉ để phục vụ cho công tác bán các đầu thu mới??? Hơn thế, hiện tại chúng tôi thu nhờ sóng của Tp. Hồ Chí Minh nên tín hiệu rất yếu, chúng tôi rất muốn biết đến bao giờ thì Tây Ninh mới được phũ sóng truyền hình số mặt đất của VTC đây???. Chúng tôi cũng đã gửi ý kiến đến nhà đài nhưng vẫn không thấy thông tin phản hồi. Hi vọng với tư cách là đơn vị chũ quản kính mong Bộ Thông tin và Truyền thông lên tiếng để bảo vệ các khách hàng chúng tôi. Rất mong sớm nhận được phản hồi từ Bộ và nhất là từ VTC. Xin chân thành cảm ơn...!!!

Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Do các hãng cung cấp nội dung thay đổi chính sách, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện công ước Quốc tế về bản quyền nội dung, không cho phép phát các kênh truyền hình nước ngoài trên hệ thống truyền hình quảng bá nên VTC chỉ được phép phát các kênh này trên hệ thống truyền hình có quản lý người xem.
Đối với các kênh do VTC tự sản xuất như VTC3, VTC6 đa số chương trình trên các kênh này được mua bản quyền trong đó quy định không được phát quảng bá rộng rãi nên VTC không thể tiếp tục phát các kênh này trên hệ thống đầu thu VTC – T13 và các model trước đó là vì lý do bản quyền. Những chương trình có thể phát quảng bá thì VTC đã phát trên các kênh VTC khác như VTC1, 2, 5…
Về kế hoạch phủ sóng truyền hình số mặt đất VTC tại Tây Ninh: Thực hiện chủ trương và chỉ đạo của chính phủ về việc đưa sóng truyền hình số mặt đất VTC phủ sóng toàn quốc, VTC hiện đang nỗ lực đầu tư lắp đặt thêm các trạm phát sóng để phủ sóng truyền hình số VTC trên toàn quốc thông qua nguồn ngân sách được Nhà nước cấp cho các dự án đầu tư phát triển truyền hình số. Trong thời gian tới, VTC sẽ phấn đấu hoàn thiện mục tiêu này đưa truyền hình số mặt đất phủ sóng tới địa bàn Tây Ninh để phục vụ bạn xem truyền hình.

Độc giả: Luong Gia Huy - Tp.Ho Chi Minh
Kính chào các vị lãnh đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông. Tôi là một người dân cư ngụ tại Tây Ninh xin có đôi điều gửi gấm cùng các vị. Trước nhất, tui lấy làm bất bình về tình hình phát sóng truyền hình Analog của các đài. Tôi không biết lỗi này do ai nhưng hậu qủa trước nhất là khán giả chúng tôi gánh chịu. Đó là các kênh phát sóng của các đài trở nên loạn và bát nháo. Tôi mở chiếc tivi lên chọn kênh ĐN1 để xem thì ko xem được gì vì tình hình phát chung kênh sóng,hai kênh ĐN1 va ATV của (truyền hình An Giang) cứ chen nhau làm tui đau cả mắt, chuyển qua kênh 35UHF xem HTV4 nhưng tui không biết đang xem gì nửa lúc thì HTV4 lúc thì THTV(truyền hình Trà Vinh). Chuyển kênh qua xem CVTV1 thì cũng tương tự với sự chen sóng giữa CVTV1 và BPTV2... Không chỉ thế còn nhiều và rất niều những trường hợp tương tự ví dụ: kênh 8VHF khi thì THVL1 khi thì CTV, mới đây nhất là cuộc tranh sóng của CVTV2 với VTC9, rồi BPTV1 với STV rồi còn nhiều và rất nhiều những trường hợp tương tự. Làm cho khán giả chúng tôi mỏi mệt và muốn điên cả lên. Bây giờ chúng tôi không biết xem kênh nào để không còn bị tra tấn như vậy đây. Mặc dù đã nhiều lần gọi và gửi thư đến Đài nhưng tôi chỉ nhận được những lời hứa hẹn. Thiết nghĩ Bộ nên ra tay trong việc sắp xếp lại các kênh phát sóng của các đài để khán giả như chúng tôi được xem các kênh mà mình yêu thích. Thứ hai, tôi muốn hỏi đến khi nào thì ở Bộ sẽ bắt buộc các đài chuyển sang phát sóng kỹ thuật số mặt đất???. Trên đây là những lời mà tôi muốn nhắn gửi rất hy vọng sẽ nhận được phúc đáp từ phía Bộ và nhất là từ các đài,nếu có gì không phải xin qúi Bộ bỏ qua. Xin chân thành cảm ơn và chúc cho các thành viên của Bộ Thông tin và Truyền thông dồi dào sức khoẻ để tiếp tục phục vụ và cống hiến cho nước nhà.

Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng lớn các đài phát thanh, truyền hình, với 67 đài đang phát sóng khoảng gần 100 kênh truyền hình quảng bá. Trong thời gian qua, một số đài phát thanh, truyền hình đã có những cố gắng để đầu tư phát triển và mở rộng vùng phủ sóng. Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch phát triển và công tác quản lý còn bất cập nên sự phát triển có nơi còn tự phát, không đồng bộ của cả hệ thống. Ở khu vực đồng bằng Nam Bộ có tình trạng phát triển tự phát, một số đài có xu hướng đầu tư tăng công suất, nâng cao ăngten, mở rộng phạm vi phủ sóng ra các tỉnh lân cận nhằm tăng doanh thu quảng cáo. Điều này dẫn đến tình trạng phủ sóng chồng lấn, thậm chí một số trường hợp đã gây ra can nhiễu lẫn nhau, dẫn đến lãng phí về đầu tư. Công suất máy phát, thời lượng chương trình địa phương phân bổ không đồng đều. Hầu hết các đài phát thanh, truyền hình tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có xu hướng tăng thời lượng phát sóng trong ngày trong khi năng lực còn hạn chế; thiết bị không đồng bộ, chủ yếu là thiết bị dân dụng hoặc bán chuyên dụng. Mạng lưới các máy phát sóng mặt đất trong cả nước chưa hình thành một hệ thống mạng thống nhất giữa trung ương – khu vực – địa phương, do đó không sử dụng được hết năng lực hiện có, dẫn đến tình trạng lãng phí về công suất phát sóng, gây can nhiễu đối với các đài xung quanh.
Nhằm tránh tình trạng chồng chéo, gây can nhiễu lẫn nhau của các Đài phát thanh, truyền hình và để đáp ứng nhu cầu được thông tin, giải trí của người dân, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng Quy hoạch phát triển hệ thống phát thanh, truyền hình cũng như Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đang trình Chính phủ phê duyệt.

Độc giả: meo mun -
Viettel đang ăn cắp tiền của bạn bằng cách khuyến mãi nhiều. Tuy nhiên các bạn hãy để ý thời gian tính cước cuộc gọi mà xem, nhanh như máy bay. Không tin bạn thử so sánh giữa thời gian tính cước cuộc gọi và đồng hồ nhà bạn xem có đúng vậy không. Hãy gửi tin này cho mọi người để Viettel bỏ ngay kiểu ăn cắp này nhé --> chính xác luôn, vừa mới phát hiện trò này khi Viettel tách tiền trong tài khoản và tiền khuyến mãi --> mặc dù chưa bao giờ “đo” thời gian nhưng công nhận là nó nhanh thật, đặc biệt từ khi tớ dùng 2 số Viettel và EVN song song thì càng thấy chênh lệch. Slogan của VT nên đổi là: “Nói theo cách của bạn, tính cước theo cách của chúng tôi”.

Cục Quản lý chất lượng CNTT &TT  xin trả lời bạn:

Cám ơn bạn đã có ý kiến phản ánh. Ý kiến của bạn là về chỉ tiêu Độ chính xác ghi cước của dịch vụ điện thoại di động của Viettel.

Trong các năm gần đây Bộ TT&TT đã tiến hành kiểm tra chất lượng dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp trong đó có chất lượng dịch vụ điện thoại di động của Viettel. Thông qua các đợt kiểm tra chúng tôi không phát hiện thấy Viettel vi phạm chỉ tiêu về độ chính xác ghi cước.

Gần đây nhất, trong năm 2008, Bộ TT&TT đã tiến hành kiểm tra chất lượng dịch vụ điện thoại di động của Viettel trong đó có kiểm tra chỉ tiêu Độ chính xác ghi cước. Qua kiểm tra hơn 10.000 cuộc gọi mô phỏng, chỉ tiêu Độ chính xác ghi cước của Viettel là: Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai là 0% (tiêu chuẩn quy định là ≤ 0,1%), Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai là 0% (tiêu chuẩn quy định là ≤ 0,1%).

Trong trường hợp bạn có đầy đủ thông tin về các cuộc gọi sai, bạn có thể cung cấp cho chúng tôi để chúng tôi có những xem xét, đánh giá cụ thể.

Độc giả: nguyễn thị hồng nhung - 3/34/47 Xuân La - Tây Hồ - Hà Nội
Công ty chúng tôi đang định mở 1 sàn giao dịch về bất động sản, xin hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông chúng tôi cần phải có những văn bản pháp quy nào để có thể đưa sàn giao dịch đi vào hoạt động?

Vụ Pháp chế xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Cảm  ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Chúng tôi xin đưa ra một số gợi ý để bạn tham khảo:

- Việc thiết lập sàn giao dịch về bất động sản, công ty bạn cần tuân thủ các quy định của luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản có liên quan.

- Trường hợp công ty bạn muốn mở sàn giao dịch trên mạng Internet, tức là thiết lập trang thông tin điện tử. Ngoài các quy định của luật chuyên ngành, Công ty bạn phải tuân thủ các qui định của Luật Công nghệ thông tin và Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Cụ thể việc thiết lập trang thông tin điện tử tuân theo nguyên tắc:
"1. Việc thiết lập trang thông tin điện tử, việc cung cấp, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin điện tử trên Internet phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí, pháp luật về xuất bản, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về bản quyền, pháp luật về quảng cáo và các quy định quản lý thông tin điện tử trên Internet.
2. Các cơ quan báo chí đã được cấp Giấy phép hoạt động báo điện tử theo quy định của pháp luật về báo chí được thiết lập trang thông tin điện tử sử dụng cho hoạt động báo chí.
3. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
4. Các doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
5. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử và sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định liên quan tại Nghị định này.
6. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiết lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet”
 
 Công ty bạn cần căn cứ vào nhu cầu của mình đề thực hiện các thủ tục thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet cho phù hợp.

Độc giả: huỳnh việt cường -
Bộ không cho thuê bao ảo của mạng điện thoại di động,nhưng các mạng thì khuyến khích sử dụng sim mới, khuyến mãi sim tài khoản rất cao hơn nạp thẻ điện thoại, khi nào tất cả sim điện thoại của các mạng tài khoản chỉ còn 50 ngàn, thì lúc đó Bộ không còn lo vấn đề sim ảo nữa, 1 bên thì cấm không cho số thuê bao ảo, còn tất cả các mạng thì khuyến mãi sim kích hoạt mới như vậy cũng như 1 bên thì cấm, 1 bên thì khuyến khích sử dụng sim ảo không cần nạp thẻ điện thoai. Nếu tài khoản được như vậy thì sẽ không tốn nhân lực và tài lực đi kiểm tra, tiết kiệm được rất nhiều cho nhà nước.

Vụ Viễn thông xin trả lời bạn như sau:

Theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông về quản lý, cấp phát kho số viễn thông thì không có khái niệm thuê bao ảo. Các thuê bao điện thoại di động sau khi khi bị khoá 2 chiều, chỉ được lưu giữ trong thời hạn 02 tháng trên hệ thống. Nếu người sử dụng dịch vụ không có nhu cầu sử dụng lại số thuê bao đó, quá thời gian 2 tháng sẽ được huỷ và đưa trở lại vào kho số của doanh nghiệp.

Đối với các chương trình khuyến mại như câu hỏi mà độc giả đưa ra, để đảm bảo phát triển lành mạnh, cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp thông tin di động và tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội được sử dụng dịch vụ điện thoại di động, hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền đang phối hợp tích cực với Bộ Công thương và các doanh nghiệp thông tin di động để nghiên cứu và xây dựng và sẽ ban hành trong Quý I/2009 Thông tư liên tịch Bộ Công Thương – Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn một số điều của Nghị định 37/2006/NĐ-CP về khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động.

Việc triển khai thực hiện theo Thông tư trên sẽ góp phần đưa thị trường thông tin di động phát triển theo đúng hướng, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh. Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn và triển khai thực hiện việc quản lý đăng ký thông tin của thuê bao di động tra trước theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BTTTT và hoàn thiên lại quy định quản lý, phân bổ kho số viễn thông phù hợp với công tác quản lý.

Độc giả: Đặng Văn Mãng - Văn phòng HĐND&UBND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
Tôi có đọc nội dung Chỉ thị của Bộ TT-TT về sử dụng bộ Office mã nguồn mở; trong đó nội dung triển khai ngay trong năm 2009. Tại huyện Tánh Linh, tôi đã cho triển khai mới đây bộ địa Office bản quyền do Sở TT&TT tỉnh tập huấn và đã sử dụng được 3 tháng nay cho tất cả các đơn vị trong huyện. Tuy nhiên tôi rất mê bộ Office mã nguồn mở, vì trước đây tôi cũng đã có sử dụng 1 thời gian. Vậy huyện Tánh Linh chúng tôi có thể sử dụng bộ phần mềm mã nguồn mở này được không? (tôi đã tải bộ này từ website của Bộ TT-TT); trước mắt chúng tôi cho áp dụng thí điểm đối với cơ quan Văn phòng HĐND&UBND huyện Tánh Linh trước, sau Tết sẽ triển khai rộng ra các đơn vị trong huyện có được không? chúng tôi đã cài thử và chạy ổn định. Xin ý kiến các anh

Vụ Công nghệ Thông tin trả lời:

Rất hoan nghênh bạn Mãng cũng như các cơ quan, đơn vị ở Huyện Tánh Linh đã sẵn sàng triển khai Open Office. Như đã nêu trong Chỉ thị, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ thị cho các Sở Thông tin và Truyền thông nhanh chóng triển khai cài đặt và sử dụng Open Office tại Sở cũng như các cơ quan nhà nước trên địa bàn Tỉnh. Bộ Thông tin và Truyền thông ủng hộ việc Huyện Tánh Linh sớm triển khai cài đặt, sử dụng Open Office tại văn phòng HĐND & UBND Huyện, cũng như tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Huyện. Đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông Bình Thuận cũng như các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận và huyện Tánh Linh ủng hộ, hỗ trợ bạn Mãng và các cơ quan, đơn vị ở huyện Tánh Linh trong việc triển khai cài đặt, sử dụng Open Office, đồng thời xem xét, cân nhắc nếu có thể thì lấy Huyện Tánh Linh làm một trong những điểm đi trước về cài đặt và sử dụng Open Office để đúc rút kinh nghiệm, mở rộng triển khai ở các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn tỉnh Bình thuận.

Độc giả: Bui Quang Dieu - Cầu Giấy - Hà Nội
Tôi xin được hỏi là cần làm thủ tục gì để được phép đưa một trang web giao dịch mua bán hàng qua mạng. Tôi xin trân thành cảm ơn !

Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Hiện nay, Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ-CP đã có hiệu lực, khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 19 Nghị định này quy định như sau:
3. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
4. Các doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
5. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử và sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định liên quan tại Nghị định này.
6. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiết lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet.
Hiện nay, Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đang chủ trì xây dựng thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định 97 về quản lý thông tin điện tử trên internet.

Độc giả: Nguyen Hong Vu - Lô 8A Chung cư Bắc Đinh Bộ Lĩnh, phường 26, Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh
Hiện có rất nhiều khái niệm cơ bản liên quan trong lĩnh vực viễn thông mà chưa có sự thống nhất? Đề nghị Quý anh, chị giúp tôi tìm hiểu khái niệm "Liên lạc bằng viễn thông".

Vụ Viễn thông xin trả lời bạn như sau:

Trong viễn thông có rất nhiều thuật ngữ chuyên ngành đang được sử dụng, phần lớn các thuật ngữ này được dịch và chuyển từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Để hiểu và sử dụng đúng các thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông ở Việt nam bạn có thể tìm hiểu ở Pháp lệnh bưu chính viễn thông và các Nghị định quy định chi tiết thi hành pháp lệnh này, Nghị định 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ về Internet...và có thể tham khảo thêm dự thảo Luật viễn thông đang được đăng tải, lấy ý kiến bạn đọc trên Website: www.mic.gov.vn

"Liên lạc viễn thông" bạn hỏi được hiểu theo nghĩa là liên lạc giữa người này với một người khác bằng mạng và dịch vụ viễn thông. Theo cách hiểu, sử dụng thống nhất thuật ngữ mà pháp luật hiện hành về viễn thông đã  quy định thì đó chính là việc gửi, nhận thông tin (âm thanh, chữ viết, số liệu, ký hiệu...) giữa những người sử dụng bằng mạng và dịch vụ viễn thông.
 

Độc giả: dtthang - số 2000 trần duy hưng
Nội dung câu hỏi

Nội dung trả lời

Độc giả: Vũ Việt Vương - Trần Hưng Đạo
Xin hoan nghênh Thứ Trưởng đã tham gia trả lời trực tuyến và Thứ Trưởng cũng đã rất vất vả rồi vậy cũng xin phép được hỏi Thứ Trưởng liên quan tới dự án S-Fone. Hiện tại tôi đang làm việc tại dự án S-Fone và tôi thấy tình hình triển khai dự án này rất chậm gây ảnh hưởng đến tình hình đầu tư và tôi cũng rất lo cho tương lai của mình vậy với vai trò của Thứ Trưởng, Ông có thể giúp được gì để cho dự án này giải quyết được dứt điểm các khúc mắc đôi bên không ạ? xin cảm ơn Thứ Trưởng và mong nhận được câu trả lời của Thứ Trưởng.
S-Fone là dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa đối tác SKT (Hàn Quốc) và Cty CP DVBCVT Sài Gòn. Mạng di động S-Fone là mạng di động thứ 3 được triển khai sớm ở VN, tuy nhiên trong quá trình triển khai, hiệu quả phát triển của dự án không đạt như mong muốn, các bên trong hợp đồng HTKD đã báo cáo với các cơ quan NN liên quan những khó khăn vướng mắc. Bộ KHĐT đã báo cáo Thủ tướng về những giải pháp hỗ trợ cho dự án. Bộ TT&TT cũng đã có những chỉ đạo cho các bên trong hợp đồng HTKD cần sớm giải quyết các vướng mắc đẩy nhanh tốc độ đầu tư, cũng như có các giải pháp phù hợp khác nhằm đảm bảo hiệu quả dự án. Theo báo cáo thì những vướng mắc giữa hai bên là những khúc mắc có thể giải quyết dược. Phía SKT đã cam kết sẽ đầu tư trên 500 triệu USD cho dự án này, nên tôi tin tưởng rằng những khúc mắc của hai bên sẽ giải quyết được.
Độc giả: Lê Văn Lâm - Bà Rịa-Vũng Tàu
Xin Hỏi Thứ trưởng, hiện nay mạng truyền hình cáp hữu tuyến của nhiều doanh nhiệp đang phát triển nhanh Như vậy Bộ đã có các văn bản nào hướng dẩn các Sở Bưu chính, viễn thông để quản lý nhà nước về lĩnh vực nầy chưa quản lý về nội dung chương trình và hạ tầng kỹ thuật
Trước đây Bộ BCVT và Bộ VHTT đã có kế họach phối hợp xây dựng thông tư hướng dẫn quản lý mạng truyền hình cáp. Bộ Thông tin và Truyền thông đang hoàn thiện thông tư này và sẽ có hướng dẫn đến các sở. Để quản lý tốt lĩnh vực này, Bộ dã chủ động cùng các bộ ngành liên quan xây dựng quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thành truyền hình để trình Thủ tướng Chính phủ. Bộ sẽ có hướng dẫn chi tiết tới các sở để quản lý tốt hơn lĩnh vực này.

Độc giả: Xuan Luong - Hà Nội
Tôi thấy nhiều nước có mô hình Quỹ Dịch vụ công ích để phổ cập các dịch vụ cơ bản nhưng ở nước ta lại là Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích, như vậy có khác xu hướng chung trên thế giới?

Theo thông lệ, Quỹ công ích được thành lập là để phục vụ phát triển, cung ứng các dịch vụ công ích. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có tên quỹ gắn với các dịch vụ của lĩnh vực đó. Việc thành lập Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam là để thực hiện chính sách đẩy mạnh phát triển thị trường viễn thông, đảm bảo kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông công bằng, minh bạch. Mặc khác, nhà nước đảm bảo cho người dân ở vùng sâu vùng xa, nông thôn, biên giới, hải đảo được sử dụng các dịch vụ viễn thông cơ bản, nơi điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, doanh nghiệp không kinh doanh được theo cơ chế thị trường. Ở mỗi nước tuỳ điều kiện phát triển kinh tế xã hội, trình độ quản lý và thực tế phát triển thị trường mà có các hình thức tổ chức và quản lý quỹ khác nhau. Mô hình Quỹ ở Việt Nam có tham khảo kinh nghiệm của các nước, hoàn toàn phù hợp với thông lệ và xu hướng chung trên thế giới.

Độc giả: Hà Lan - Hà Nội
Tôi thấy Thứ trưởng trả lời Việt Nam sẽ cho phép chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ di động mà vẫn giữ nguyên số khi có điều kiện. Vậy điều kiện đó là gì
Câu hỏi của bạn đã được trả lời bạn Lê Ngọc Duy, hẻm 263, đường Lê Thị Riêng, TP.HCM. Bạn có thể xem lại câu trả lời đó.
Độc giả: Nguyễn Văn Doanh - Thành phố Huế
Theo Thứ trưởng các CIO ở các tỉnh thành phố, giám đốc các Sở TT&TT cần đạt yêu cầu gì về trình độ, độ tuổi và phẩm chất? Bộ đã phối hợp như thế nào với Bộ Nội vụ để sớm ban hành tiêu chuẩn này?

Theo quy định của Nghị định 64/2007/NĐ-CP, giám đốc Sở BCVT (Sở Thông tin và Truyền thông) là giám đốc CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Đối với Giám đốc Sở BCVT, Bộ BCVT đã ban hành tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ trong đó đã quy định về trình độ, phẩm chất, độ tuổi... Hiện nay Bộ TT&TT đang điều chỉnh, bổ sung để tháng 4/2008 ban hành tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với giám đốc Sở TT&TT.

 

Độc giả: Trần Ngọc Dĩnh - Sở Bưu chính, Viễn thông Thái Nguyên
Kính thư thứ trưởng, tôi đã được nghe một đ/c hỏi một câu hỏi về lĩnh vực đầu tư, xây dựng trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông. Tôi xin hỏi thứ trưởng chi tiết hơn một chút. Chúng tôi ở địa phương, được giao quản lý lĩnh vực bưu chính, viễn thông, nhưng chưa có quy định cụ thể cho Sở được tham gia quá trình thẩm định, cấp phép dự án đầu tư và xây dựng về bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh. Vậy trong thời gian tới Bộ có quy định gì để Sở có thể tham gia quản lý đầu tư, xây dựng về bưu chính, viễn thông để các Sở thể hiện đúng vai trò quản lý bưu chính, viễn thông và có thông tin đầu tư, xây dựng của các doanh nghiêp. Xin cảm ơn Thứ trưởng !

Đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng trong lĩnh vực BCVT hiện đang được quản lý theo quy định của Luật XD và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác, đối với những dự án BCVT có xây dựng theo quy định hiện nay vẫn do Sở XD chủ trì, Sở BCVT sẽ tham gia đóng góp ý kiến trong thẩm định dự án, còn đối với những dự án không có xây dựng thì các Sở BCVT vẫn phải đóng vai trò thẩm định về kinh tế kỹ thuật chuyên ngành, đối với việc này Sở cần có báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh để giao nhiệm vụ cho Sở thực hiện. Hiện ở nhiều tỉnh đã thực hiện theo quy trình này.

Độc giả: Lam Binh Chi - 256/37 Gia Lâm
Xin chào Thứ trưởng, theo tôi được biết trước đây VTV và TCty đường sắt Việt Nam đã xin Bộ cấp phép di động 2G. Tuy nhiên, lúc đó Bộ đã từ chối cấp phép vì hết băng tần. Vừa rồi lại thấy Bộ cấp phép di động 2G cho công ty GTEL thuộc Bộ CA. Vậy xin ông trả lời cho vấn đề này? liệu có hay không việc phân biệt đối xử ?

Bộ chưa nhận được hồ sơ xin cấp phép dịch vụ di động 2G của hai đơn vị này. Tôi khẳng định không có chuyện phân biệt đối xử trong việc cấp phép cho các doanh nghiệp như trường hợp bạn nếu. Trước đây, việc cấp phép sẽ thực hiện trên nguyên tắc ai đến trước được cấp trước. Tuy nhiên, những doanh nghiệp được cấp phép phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Đối với một số giấp phép cho công nghệ mới như 3G, Bộ sẽ thí điểm thực hiện theo hình thức thi tuyển để đảm bảo yếu tố minh bạch công khai.

Độc giả: Trần Thu Hoài - Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Thưa Thứ trưởng, in lậu vẫn được coi là một vấn nạn của ngành xuất bản, làm thiệt hại kinh tế và uy tín rất lớn. Bộ đã có kế hoạch giải quyết vấn đề này vào năm 2010. Thứ trưởng có thể nói gì về vấn đề này?

Nhận xét của bạn là đúng. Hiện nay in lậu có thể nói là một vấn nạn của ngành xuất bản. Một số nguyên nhân gây ra nạn in lậu này có thể khẳng định một phần là do công tác quản lý của chúng ta tương đối lỏng lẻo và vấn đề thanh tra, kiểm tra, xử lý chưa phát huy được hiệu lực.

Để khắc phục tình trạng này, thứ nhất là Bộ TT&TT đang được Chính phủ giao sửa đổi Luật Xuất bản và sẽ trình Quốc hội trong năm nay.

Thứ hai, với phạm vi quản lý của mình. Bộ sẽ có những văn bản quy định chặt chẽ hơn nữa đối với công tác xuất bản. Ví dụ như quản lý chặt giấy phép XB để không có hiện tượng in nối bản, giao trách nhiệm cụ thể hơn cho Tổng biên tập các nhà xuất bản và các cơ quan chủ quản của các NXB.

Thứ ba, phải tăng cường xử lý vi phạm vì hiện nay mức xử lý vi phạm hành chính là quá thấp, không đủ mức độ răn đe.

Thứ tư, để làm được việc này cần có sự đồng thuận rất lớn của xã hội. Bộ TT&TT cũng mong nhận được sự đồng thuận của các nhà xuất bản, các doanh nghiệp phát hành, các cơ sở in trên toàn quốc cũng như sự ủng hộ của nhân dân. Cảm ơn bạn!

Độc giả: Nguyễn Văn Công - Bắc Ninh
Nguyên nhân gì khiến Bộ TTTT chưa có thông tư hướng dẫn việc triển khai Nghị định 13 của Chính phủ về việc thành lập Sở TTTT các tỉnh, TP
Căn cứ Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 của Chính phủ Sở Thông tin và Truyền thông được thành lập trên cơ sở Sở BCVT trước đây, bổ sung chức năng quản lý Nhà nước về báo chí, xuất bản. Bộ Nội vụ đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định. Theo đó, trong tháng 3/2008, UBND các tỉnh, thành phố tiến hành bàn giao chức năng quản lý báo chí, xuất bản từ Sở VHTT trước đây sang Sở TTTT. Bộ Nội vụ cũng yêu cầu các Bộ trong tháng 4/2008 xây dựng dự thảo thông tư liên tịch giữa Bộ quản lý Ngành và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và cấp huyện, tiến hành lấy ý kiến các địa phương và ban hành chậm nhất là tháng 5/2008. Hiện nay Bộ TT&TT đang tích cực xây dựng dự thảo thông tư này. Dự kiến trung tuần tháng 4 sẽ gửi xin ý kiến UBND các địa phương và hòan chỉnh trình ban hành vào cuối tháng 4/2008. Thông tư này là cơ sở để Sở TTTT và Sở Nội vụ các địa phương xây dựng chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Sở và văn bản hướng dẫn UBND cấp huyện quy định chức năng nhiệm vụ phòng Văn hóa thông tin thuộc UBND cấp huyện về quản lý Nhà nước các lĩnh vực TT&TT trình UBND các cấp ban hành.
Độc giả: Ngô Anh Đào - Gia Lâm - Hà Nội
Xin hỏi Thứ Trưởng về việc Việt Nam ta đã gia nhập WTO và trong lĩnh vực viễn thông vẫn còn mấy dự án đang ở hình thức BCC và theo tôi được biết Bộ sẽ chuẩn bị một thông tư hướng dẫn cho phép các doanh nghiệp này được phép chuyển đổi sang hình thức khác, ví dụ như Liên doanh hoặc cổ phần. Vậy khi nào thì Bộ sẽ chính thức ban hành thông tư hướng dẫn này? xin cảm ơn Ông.
VN đã trở thành thành viên chính thức của WTO và thực hiện mở cửa thị trường VT theo cam kết của WTO. Để tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý thời gian qua VN đã ban hành các bộ luật mới như Luật Đầu tư, Luật DN phù hợp với các quy định của WTO. Trong lĩnh vực VT hiện nay, hiện đang có các hình thức đầu tư nước ngoài như BCC, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hiện nếu các DN tham gia trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) muốn chuyển đổi sang các hình thức khác, ví dụ như liên doanh hoặc cổ phần thì sẽ phải thực hiện theo các quy định của Luật Đầu tư và Luật DN.
Độc giả: hà bá mỹ - hàng bột- đống đa - Hà Nội
Xin hỏi thứ trưởng là việc triển khai dịch vụ chứng thực chữ ký số CA của một vài doanh nghiệp Việt Nam đang rất sẵn sàng, nhưng chưa triển khai được do Bộ Thông tin và Truyền thông chưa xây dựng được hệ thống CA gốc. Thứ trưởng có thể cho biết khi nào thì hệ thống này được bộ xây dựng xong và khi nào thì DN có thể cung cấp dịch vụ này cho xã hội.
Bộ TT&TT đã có dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho hệ thống Root CA. Tuy nhiên do khó khăn về ngân sách , nên đến nay hệ thống này chưa sẵn sàng. Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống  Root CA đối với sự phát triển chính phủ điện tử và thương mại điện tử ở Việt nam, chúng tôi đã chỉ đạo Cục ứng dụng CNTT (đơn vị chủ trì dự án) tìm các giải pháp khác để nhanh chóng đưa hệ thống vào vận hành. Đến giữa năm 2008, hệ thống có thể đưa vào hoạt động. Trên cơ sở hoạt động của hệ thống này, các doanh nghiệp có thể triển khai các thủ tục cần thiết để cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cho xã hội.
Độc giả: Hồ Ngọc Hà - Lào Cai
Thưa Thứ trưởng, Việt Nam vừa phóng vệ tinh đầu tiên Vinasat, khẳng định tên tuổi quốc gia trên không gian. Tuy nhiên, chúng tôi được biết đây chỉ là vệ tinh địa tĩnh. Vậy, vệ tinh này có khác gì với các vệ tinh hiện đại mà các nước tiên tiến hiện đang sử dụng và trong những năm tới, Việt Nam liệu có tiếp tục phóng các vệ tinh khác lên quĩ đạo không?

Cảm ơn bạn đã quan tâm đến một lĩnh vực công nghệ rất mới và hiện đại. Xin thông báo để bạn rõ, vệ tinh đâầ tiên của Việt Nam có tên là Vinasat1, sẽ được phóng lên quỹ đạo vào khoảng giữa tháng 4/2008. Việc phóng vệ tinh lần đầu tiên của Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam có quỹ đạo vệ tinh trên không gian, đồng thời góp phần đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia và đi quốc tế.

Vinasat 1 của Việt Nam thuộc loại vệ tinh địa tĩnh, cũng giống như tất cả các vệ tinh khác trên thế giới hiện đang được sử dụng cho mục đích truyền thông.

Vinasat1 là vệ tinh đầu tiên của Việt Nam và chắc chắn một quốc gia gần 90 triệu dân của Việt Nam sẽ có những quả vệ tinh tiếp theo. Thực tế, Bộ TT&TT là cơ quan được Chính phủ uỷ nhiệm đã làm việc với các tổ chức quốc tế và chúng ta đã giành được một vài vị trí quỹ đạo trên không gian để chuẩn bị cho việc phong những vệ tinh sau này. Cảm ơn bạn!

 

Độc giả: Nguyễn Hoàng - Phố Huế, Hà Nội
Xin Thứ trưởng cho biết liệu đã có đánh giá chính thức về con số đóng góp thực tế của ngành bưu chính-viễn thông trong cuộc cuộc đổi mới kinh tế đất nước diễn ra được hơn 20 năm vừa qua và những định hướng phát triển lớn của ngành trong thời gian tới?

Xin cảm ơn bạn Nguyễn Hoàng. Thành tựu của 20 năm phát triển ngành BCVT tôi đã trả lời bạn Nguyễn Thành Nam, xin bạn xem phần trả lời đó.

Đối với sự phát triển của ngành CNTT-TT trong thời gian tới, có một số định hướng chính như sau:

Thứ nhất, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đẩy nhanh phát triển viễn thông và Internet, đặc biệt là các dịch vụ mới và băng rộng.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và khuyến khích mọi thành phần kinh tế ứng dụng CNTT để phục vụ phát triển KT-XH, trên cơ sở đó xây dựng thành công CPĐT ở Việt Nam, tiến tới chúng ta thực hiện một chính phủ gần dân hơn, giải quyết nhanhchóng các yêu cầu của dân, thể hiện bằng các dịch vụ công trực tuyến (giải quyết qua mạng).

Thứ ba, phát triển ngành công nghiệp CNTT đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế của đất nước, với điều kiện trình độ lao động Việt Nam rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số.

Thứ tư, tập trung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNTT-VT. Đây là một yếu tố rất quan trọng để giúp cho sự phát triển kinh tế của tất cả các ngành, các cấp, đồng thời phục vụ tốt cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Độc giả: Trần Thu Hoài - Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Xin hỏi Thứ trưởng, mô hình hoạt động của 4 tổng công ty là Tổng công ty Bưu chính VN và 3 tổng công ty viễn thông I, II, III có ưu điểm gì so với mô hình hoạt động của tổng công ty cũ?

Câu hỏi của bạn liên quan đến mô hình của Tập đoàn BCVT Việt Nam. Theo nghiên cứu và đề xuất trước đây của tập đoàn, đúng là có 4 Tổng công ty, gồm Tổng công ty Bưu chính và 3 Tổng công ty viễn thông vùng 1, vùng 2 và vùng 3. Tuy nhiên, do sự phát triển của công nghệ viễn thông, sự đổi mới của công nghệ quản lý mạng lưới nên cho đến nay, Thủ tướng Chính phủ quyết định trong Tập đoàn chỉ có 1 Tổng công ty Bưu chính, còn phần viễn thông sẽ không thành lập các Tổng công ty vùng 1, vùng 2 và vùng 3 nữa.

Mô hình hoạt động của Tập đoàn hiện nay khác với mô hình của Tổng công ty cũ ở những điểm về chất như sau:

Thứ nhất, Tập đoàn có thể được kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó BCVT-CNTT là lĩnh vực kinh doanh chính.

Thứ hai, phải tách bạch rõ kinh doanh và công ích. Có nghĩa là trong nội bộ tập đoàn không được thực hiện bù chéo như trước đây. Chính vì tiêu chí này nên tổng công ty Bưu chính ra đời là hạch toán hoàn toàn độc lập. Hoạt động của Tổng công ty Bưu chính nặng về hoạt động công ích. Những hoạt động này sẽ được Nhà nước hỗ trợ. Bộ đang chỉ đạo Tổng công ty Bưu chính hoàn thiện bộ máy và kế hoạch hoạt động, đặc biệt là hoàn thiện Đề án Bưu chính công ích để hỗ trợ giai đoạn đầu cho Tổng công ty phát triển và phấn đấu giảm dần hỗ trợ của Nhà nước. Hiện nay, chúng tôi đang chỉ đạo để làm sao đến năm 2013, hoạt động của Tổng công ty Bưu chính sẽ cân bằng được thu - chi. Cảm ơn bạn!

Độc giả: Hà Bảo - Hà Nội
Cổ phần hoá các doah nghiệp lớn của nhà nước hiện đang là ưu tiên của Chính phủ Việt Nam. Trong lĩnh vực hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông, xin Thứ trưởng cho biết tình hình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành đến đâu, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực viễn thông, hiện được rất nhiều người quan tâm?
Cảm ơn bạn Hà Bảo, câu hỏi này tôi vừa trả lời đối với bạn Huyền Anh. Đề nghị bạn xem phần trả lời đó.
Độc giả: Hoàng Hà - Hà Nội
Theo các thông tin mà tôi được biết, hiện Việt Nam đang chuẩn bị ứng dụng các công nghệ mới trong các lĩnh vực viễn thông và Internet như 3G, WiMAX. Vậy, xin Thứ trưởng cho biết hiện công việc chuẩn bị cho các công nghệ này ở Việt Nam đã được tiến hành đến đâu và bao giờ người dân được thụ hưởng các công nghệ mới này?
Bộ đang xây dựng các tiêu chí để cấp phép cho các doanh nghiệp triển
khai công nghệ 3G theo hình thức thi tuyển. Bộ sẽ cấp phép 3G cho doanh nghiệp trúng tuyển trong năm 2008.
Đối với công nghệ WiMAX, đây là công nghệ mới trên thế giới, năm ngoái
Bộ đã cấp phép thử nghiệm WiMAX cố định cho các doanh nghiệp, năm nay Bộ
cũng đã tiếp tục cấp phép thử nghiệm cho các doanh nghiệp thử nghiệm
công nghệ WiMAX di động nhằm đánh giá công nghệ, phương án triển khai.
Sau khi các doanh nghiệp thử nghiệm, và có những kết quả đánh giá thì Bộ
sẽ xem xét để cấp phép cho các doanh nghiệp triển khai thực tế cung cấp
cho xã hội.

Độc giả: Hoàng Thiên Sơn - Trung Phụng, Hà Nội
Kính chào Thứ trưởng, đối với các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, các công ty công nghệ thông tin đóng góp khá nhiều cho nền kinh tế quốc gia và tốc độ phát triển của những công ty này thời gian vừa qua cũng đầy ấn tượng. Tuy nhiên, các công ty công nghệ thông tin tuy cũng có đóng góp cho nền kinh tế nước nhà, nhưng lại chưa bằng các công ty viễn thông. Vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông có kế hoạch và chính sách gì để thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin ở Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới?

Ngành công nghiệp công nghệ thông tin (bao gồm công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng máy tính, công nghiệp điện tử và công nghiệp nội dung số) nước ta mấy năm qua phát triển  rất mạnh và đã góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước. Thống kê chưa đầy đủ (do đặc thù các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này rất nhiều và phần lớn là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài) cũng đã cho thấy tổng doanh thu của toàn ngành công nghiệp này năm 2007 đạt khoảng 4 tỷ USD. Để tạo hành lang pháp lý cho ngành công nghiệp công nghệ thông tin, Bộ Bưu chính viễn thông (nay là Bộ Thông tin và truyền thông) xây dựng, trình và đã được phê duyệt ban hành Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của luật CNTT về công nghiệp CNTT. Bộ cũng đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm đến năm 2010 (Quyết định số 51/2007/QĐ-TTg), Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến năm 2010 (Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg) và Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử đến năm 2010 (Quyết định số 75/2007/QĐ-TTg) nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp này phát triển mạnh hơn nữa. Hiện nay Bộ đang khẩn trương đốc thức các cơ quan liên quan triển khai các chương trình, kế hoạch nêu trên để đẩy mạnh sự phát triển của công nghiệp CNTT nước ta, đóng góp ngày càng lớn cho ngành kinh tế quốc dân.

Độc giả: Đinh Kim Ngọc Khuyên - Quy Nhơn
Hiện nay, việc quản lý và xác nhận khối lượng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2005-2007 hầu hết các Sở còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong đó có dịch vụ thuê bao điện thoại vô tuyến theo hình thức trả trước, xin thứ trưởng cho biết cách xác nhận dịch vụ theo hình thức trả trước như thế nào?

Bộ TT&TT đang chỉ đạo các doanh nghiệp, các Sở thực hiện việc xác nhận khối lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông công ích đã hoàn thành giai đoạn 2005-2007, Bộ TT&TT đã hướng dẫn các doanh nghiệp làm báo cáo và các Sở TT&TT thực hiện việc xác nhận. Đây là một việc khó khăn, đảm bảo (hồi tố) kinh phí cho các doanh nghiệp đã thực hiện khối lượng sản phẩm dịch vụ đã cung cấp. Trong thời gian qua và hiện nay, việc xác nhận của các Sở căn cứ vào báo cáo của các doanh nghiệp, kèm các hồ sơ phát triển máy, hoá đơn thu cước kèm theo. Đối với điện thoại cố định vô tuyến trả trước mới có từ cuối năm 2007, do sự phát triển của công nghệ, Bộ tiếp tục hướng dẫn bổ sung sớm.

Độc giả: Minh Quyen - Quy Nhon - Binh Dinh
Được biết lộ trình chính phủ điện tử do Bộ vạch ra đến năm 2010, Chính Phủ sẽ quản lý, điều hành qua mạng e-mail, website, giao ban trực tuyến, …, tuy nhiên, nay đã là năm 2008, vậy Bộ đã có kế hoạch gì trong vòng 2 năm tới để chính phủ điện tử được thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương đúng như dự kiến.
Ngay trong Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 (mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/3/2008) đã đặt ra nhiệm vụ cho các Bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải triển khai xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống e-mail, cổng thông tin điện tử (hoặc website), phần mềm quản lý văn bản và điều hành. Đối với các Bộ, tỉnh, thành phố được chọn làm điểm cần triển khai thử nghiệm hệ thống giao ban trực tuyến giữa Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh với các đơn vị trực thuộc. Tiếp tục Kế hoạch 2008, trong dự thảo Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước 2009-2010, Bộ TT&TT đề xuất với Thủ tướng triển khai mạnh hơn cả về chiều sâu và chiều rộng các nhiệm vụ đã được đặt ra trong năm 2008. Hy vọng rằng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chỉnh phủ, sự ủng hộ của các Bộ, các tỉnh, thành phố vào cuối năm 2010, các mục tiêu chúng tôi dự kiến đặt ra sẽ đạt được.
Độc giả: trần minh - Tp.HCM
Thứ trưởng vui lòng cho biết Kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2009-2010 được xây dựng trên tiêu chí nào? Bộ có hướng dẫn gì để các sở TTTT có định hướng xây dựng không?

Về quan điểm: Kế hoạch Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước 2008-2010 được xây dựng và triển khai nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Chính phủ và phục vụ nhân dân tốt hơn; Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được tiến hành đồng bộ, gắn chặt chẽ với quá trình cải cách hành chính.

Về mục tiêu: Kế hoạch cố gắng đưa ra những mục tiêu cụ thể, khả thi, có thể đánh giá được. Ví dụ: Kế hoạch đặt ra mục tiêu đến năm 2010 90% cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử, 100% các Bộ, tỉnh, thành phố có Cổng thông tin điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công trực tuyến; đến 2010 các tỉnh cung cấp được tối thiểu 3 dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 3...

Bộ BCVT trước đây đã có hướng dẫn các Bộ, tỉnh xây dựng Kế hoạch ứng dụng CNTT 2008-2010 trong phạm vi ngành, địa phương mình. Trong quá trình xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước cho toàn quốc nếu, nếu có nội dung mới chúng tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn cụ thể hơn.

Độc giả: Nguyễn Thành Nam - Hà Nội
Xin kính chào Thứ trưởng. Tôi là một người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.Qua báo chí, tôi được biết trong mấy năm gần đây, viễn thông Việt Nam có sự phát triển rất nhanh chóng với những kết quả ấn tượng. Vậy xin Thứ trưởng đánh giá về sự phát triển đó và so sánh với các nước trong khu vực ?

Xin cảm ơn sự quan tâm của bạn. Đúng là trong mấy năm qua, đặc biệt là trong 3 năm trở lại đây, nhờ cơ chế chính sách đúng đắn của nhà nước, sự nỗ lực của các doanh nghiệp và sự ủng hộ của nhân dân, ngành viễn thông Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện, với tốc độ có thể nói là bùng nổ. Sự phát triển đó thể hiện trên các mặt sau:

Về phát triển thuê bao điện thoại, 3 năm qua, chúng ta luôn đạt con số thuê bao năm sau bằng tất cả các năm trước cộng lại. Hết năm 2007, Việt Nam đã đạt 44 triệu máy, thuê bao di động chiếm 75,5%, mật độ điện thoại là 52 máy/100 dân. Hiện tổng số thuê bao trên toàn mạng đã là 47,5 triệu máy, trong đó thuê bao di động chiếm 75,5%, mật độ điện thoại là 54 máy/100 dân. Cùng với sự tăng tăng trưởng đầy ấn tượng của dịch vụ di động, Internet băng rộng cũng có mức tăng trưởng gây ấn tượng mạnh. Nếu như năm 2006, Việt Nam có khoảng hơn 500.000 thuê bao ADSL, đến năm 2007 con số này đã đạt khoảng 1,2 triệu thuê bao và đến nay con só này đã đạt 1,51 triệu thuê bao ADSL. Hiện chúng ta cũng đang có 18,55 triệu người sử dụng dịch vụ Internet và đạt mật độ 22%.

về phát triển hạ tầng mạng lưới, mạng điện thoại cố định đã vươn đến hầu khắp các xã trong cả nước với tỷ lệ 100% số xã có điện thoại, việc  mở rộng vùng phủ sóng của các mạng di động đã phủ sóng được đến 95% khu vực có dân cư sinh sống. Với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc giảm cước, đa dạng hóa các loại dịch vụ và các gói cước, trong thời gian qua, các dịch vụ viễn thông, đặc biệt là điện thoại di động, đã ngày càng trở nên bình dân, phù hợp với thu nhập của đa số dân cư. Thậm chí hiện nay, chỉ cần 10.000 đồng 1 tháng, người ta cũng có thể dùng điện thoại di động. Cùng với việc phát triển thuê bao, mở rộng mạng lưới, các doanh nghiệp cũng không ngừng chăm lo nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác chăm sóc khách hàng. Minh chứng rõ rệt nhất cho điều đó là trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý vừa qua, tình trạng nghẽn mạng di động vốn xảy ra thường xuyên trong các Tết trước đã được khắc phục về cơ bản.

Trong 3 năm qua, Việt Nam luôn đứng trong top dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển viễn thông. Nếu so sánh trong khu vực ASEAN, chúng hiện đứng ở top đầu về tỷ lệ điện thoại trên số dân, đứng ở mức trung bình về giá cước.

Trong năm 2008, cùng với việc Bộ TT&TT tổ chức thi tuyển cấp phép thiết lập mạng di động thế hệ thứ 3 (3G), cấp phép triển khai công nghệ vô tuyến băng rộng Wimax và việc Tập đoàn BCVT Việt Nam phóng vệ tinh Vinasat 1 lên quỹ đạo, tôi tin rằng, viễn thông Việt Nam sẽ tiếp tục có bước phát triển mới về chất, đáp ứng xu thế hội tụ công nghệ và dịch vụ giữa viễn thông, Internet và phát thanh, truyền hình, bảo đảm yêu cầu chủ động thông tin trên mọi miền Tổ quốc, kể cả vùng miền núi, biển đảo, không phụ thuộc vào địa hình và thời tiết.

Độc giả: Tiến Dũng - nhà đầu tư, Giảng Võ, Hà Nội
và bạn Thanh Tâm - Chủ một doanh nghiệp dân doanh TP.HCM hỏi: Về cổ phần hóa Mobifone Khi MobiFone cổ phần hóa thì người dân như chúng tôi có được mua cổ phần? Khi cổ phần mạng di động này, ai sẽ là người được mua cổ phần ưu đãi? Những người làm trong VNPT có thuộc diện mua cổ phần ưu đãi hay không? Tôi nghe nói là việc cổ phần hóa Mobiphone có rất nhiều các tập đoàn lớn dòm ngó và cũng được Chính phủ của họ lobby rất dữ. Vậy các ông làm thế nào để hài hòa lợi ích của các bên? Được biết cả mạng Vinaphone cũng trong kế hoạch phải cổ phần hóa từ lâu. Vậy tại sao cho đến thời điểm này chúng ta chưa thấy động tĩnh gì? Theo ông có phải là nguyên nhân VNPT không muốn cổ phần hoá mạng di động này?

Về việc cổ phần hóa Công ty VMS

Cổ phần hóa Công ty VMS đang tích cực triển khai thực hiện. Trong quá trình triển khai đã gặp một số khó khăn:

- Việc thanh lý hợp đồng BCC với đối tác nước ngoài có sự chậm trễ do nguyên nhân khách quan. Ngay sau khi thanh lý xong hợp đồng BCC với đối tác nước ngoài, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa của Bộ đã tích cực chỉ đạo Công ty VMS đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa.

- Việc cổ phần hóa Công ty VMS cũng gặp phải một số vướng mắc về cơ sở pháp lý như việc lựa chọn đơn vị tư vấn cổ phần hóa nước ngoài và chi phí cổ phần hóa có cao hơn mức quy định hiện nay. Ban Chỉ đạo cổ phần hóa phải trình các cơ quan thẩm quyền về những vấn đề này.

- Công ty VMS là công ty lớn, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông nên thật sự chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện cổ phần hóa. Đây là đơn vị đầu tiên thực hiện cổ phần hoá trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông. Quan điểm của Bộ là triển khai khẩn trương, thận trọng và đảm bảo đánh giá đúng giá trị của Công ty VMS. Điều này cũng có nghĩa là bảo đảm không thất thoát vốn nhà nước.

Hiện nay, Công ty VMS đang khẩn trương lựa chọn đơn vị tư vấn cổ phần hóa và chúng tôi quyết tâm thực hiện xong trong năm 2008.

Trách nhiệm chậm trễ thuộc về Ban Chỉ đạo cổ phần hóa của Bộ, Tập đoàn VNPT và của Công ty VMS.

Về vấn đề mua cổ phần của Công ty VMS

Cổ phiếu ưu đãi: Chỉ cán bộ, công nhân viên, lao động thuộc Công ty VMS được mua cổ phần ưu đãi (theo Nghị định 109/2006/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần). Những cán bộ, công nhân viên khác thuộc Tập đoàn VNPT không được mua cổ phiếu ưu đãi.

Cổ phiếu IPO: Mọi nhà đầu tư đều bình đẳng, có quyền tham gia đấu giá để mua cổ phiếu của Công ty VMS.

Sau khi niêm yết trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể mua.

Các tập đoàn lớn: Đây là dấu hiệu tốt cho việc cổ phần hóa Công ty VMS, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa cũng đang chỉ đạo công ty VMS có sự tiếp xúc với các đối tác để có thể lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cho Công ty VMS và việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược sẽ thực hiện theo Luật đấu thầu.

 Về cổ phần hóa Công ty Vinaphone

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Công ty Vinaphone cũng sẽ tiến hành cổ phần hóa. Tuy nhiên Vinaphone hiện đang chưa hình thành như một công ty hạch toán độc lập, đang có sự tham gia của các Viễn thông tỉnh, thành phố vào hạ tầng và cung cấp dịch vụ tới người dân. Do vậy, viẹc cổ phần hóa ngay là chưa thể thực hiện được. Bộ đang chỉ đạo VNPT khẩn trương triển khai. Ngoài ra chúng tôi dự kiến cổ phần hóa Công ty VMS trước để đúc rút kinh nghiệm, sau đó xem xét cổ phần hóa Vinaphone.

Độc giả: Thanh Xuan - Ha Noi
Về quy hoạch đầu số, kho số: Việc quy hoạch kho số di động bằng cách cho 1 nhà khai thác sử dụng nhiều mã mạng nay đã bộc lộ những điểm yếu khách hàng mất dần khái niệm về thương hiệu thông qua đầu số làm lãng phí chi phí lớn cho việc quảng bá thương hiệu và đầu số khi số thuê bao tăng lên nhiều, kho số di động có vẻ cũng đã đến lúc cạn kiệt. Đấy là chưa kể nếu dùng kho số này hết sẽ không biết lấy đầu số ở đâu ra để dùng vì không có dự phòng. Ông đánh giá về đièu này như thế nào? Liệu trong thời gian tới, Bộ TTTT có lấy đây làm bài học để tránh tình trạng trên xảy ra đối với kho số điện thoại cố định? Theo tôi được biết, hiện nay các nhà khai thác mạng điện thoại cố định đang dùng các đầu số lẫn lộn, rất khó phân biệt thêm vào đó là nhiều mạng điện thoại cố định không dây phát triển nhanh nên tại một số tỉnh đã không còn tài nguyên đầu số để phát triển khách hàng, ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp và quyền lợi khách hàng.
Việc qui hoạch kho số di động đã được Bộ nghiên cứu và đã có họp với các
doanh nghiệp trước khi áp dụng, khi kho số đã gần hết thì việc mở rộng
kho số cho các mạng di động có thể thực hiện theo hai phương án, thứ
nhất có thể kéo dài số thuê bao, nhưng như thế sẽ ảnh hưởng đến các thuê
bao hiện đang sử dụng, phương án hai là cấp mã mạng mới cho các doanh
nghiệp. Với phương pháp này thì doanh nghiệp di động cần có các biện
pháp quảng cáo, tiếp thị để người sử dụng biết.
Đối với mạng cố định thì chỉ có một phương pháp duy nhất khi hết kho số
thì chỉ có thể kéo dài dẫy số thuê bao. Việc đánh số mạng điện thoại cố
định không dây cũng tuân theo qui định của đánh số mạng cố định.

Độc giả: Thanh Xuan - Ha Noi
4. Về hoạt động ra chính sách: - Các chính sách của Bộ TTTT hiện nay đang chạy theo cuộc sống, nhưng lại đi rất chậm trong khi cuộc sống không ngừng thay đổi. Ông nghĩ sao về điều này? Trong thời gian tới, Bộ TTTT có dự định gì để thay đổi cục diện này hay không?
Cảm ơn sự nhận xét của bạn! Thực tế, quản lý nhà nước là bằng hệ thống quy phạm pháp luật (QPPL). Tiêu chí để ban hành hệ thống văn bản QPPL là phải phản ánh mọi hoạt động của thực tiễn, đồng thời phải nắm bắt được xu hướng phát triển của thị trường, của công nghệ trong nước cũng như trên thế giới. Ngoài ra, hệ thống QPPL cũng cần có những định hướng cho thị trường phát triển. Tôi công nhận là hệ thống QPPL thường đi sau cuộc sống một nhịp, và điều này lại càng đúng với lĩnh vực viễn thông - CNTT, vì sự phát triển của KHCN, sự hội tụ của lĩnh vực viễn thông - CNTT trên thế giới đang diễn ra rất sôi động và biến đổi rất nhanh chóng. Ngay cả tổ chức lớn của thế giới như Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) cũng phải tự kiểm điểm rằng hệ thống QPPL của viễn thông thế giới (của ITU) cũng ban hành chậm hơn so với thực tiễn cuộc sống. Đây là một thực tế khách quan không chỉ của Việt Nam mà còn của nhiều nước trên thế giới. Để khắc phục vấn đề này, chúng tôi (Bộ TT&TT) đã triển khai nhiều kế hoạch, tăng cường công tác dự báo để có thể xây dựng các hệ thống QPPL giúp cho việc phát triển một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Cảm ơn bạn
Độc giả: Thanh Xuan - Ha Noi
3. Về sửa đổi Nghị định 55 về quản lý Internet: - Nửa cuối năm 2007, tôi được biết Bộ có rà soát, sửa đổi NĐ quản lý dịch vụ Internet NĐ 55, trong đó có rất nhiều chính sách thoáng, mở hơn cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Liệu bao giờ sẽ ban hành NĐ này? Ông dự đoán về tác động của NĐ này đến cuộc sống và thị trường như thế nào?

Bộ Thông tin và Truyền thông đã hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 55 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và đã trình Thủ tướng Chính phủ để ban hành. Nghị định thay thế Nghị định 55 được gồm có một số nội dung bổ sung, sửa đổi quan trọng như sau:

a)      Cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ Internet (dịch vụ kết nối, truy nhập, ứng dụng Internet): Đây là một trong các giải pháp thị trường mà Bộ sẽ sử dụng để thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện cho người sử dụng có thể lựa chọn các dịch vụ tốt, bằng cách cho phép các doanh nghiệp mới, các DN có năng lực tham gia vào thị trường.

b) Tạo điều kiện nâng cao chất lượng và giảm chi phí cung cấp dịch vụ: Nhằm thúc đẩy Internet phát triển, Nghị định thay thế Nghị định 55 qui định mọi doanh nghiệp Internet đều có quyền thuê kênh để trực tiếp kết nối với Internet quốc tế và với các trạm trung chuyển Internet. Đây là một trong các giải pháp về kỹ thuật nghiệp vụ giúp các DN giảm chi phí, và nâng cao chất lượng dịch vụ.

c) Thúc đẩy phát triển Internet băng rộng: Để thúc đẩy các dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao (xDSL), Nghị định cũng qui định buộc các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng viễn thông phải có trách nhiệm cung cấp đường truyền dẫn viễn thông và phân tách mạch vòng nội hạt khi có yêu cầu của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không có hạ tầng mạng có thể triển khai dịch vụ Internet băng rộng.

Hy vọng với những điểm mới trong Nghị định thay thế Nghị định 55 nói trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng, giảm giá thành dịch vụ Internet, tạo ra nhiều cơ hội sử dụng dịch vụ Internet và cơ hội lựa chọn sử dụng dịch vụ Internet chất lượng cao cho người dân.

 

Nghị định đưa ra các qui định nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc phát triển dịch vụ (về kết nối đặc biệt là kết nối quốc tế,  sử dụng chung cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính,…). Những chính sách đó sẽ mang lại cho người sử dụng khả năng sử dụng các dịch vụ Internet với giá thấp hơn và chất lượng cao hơn.  Tuy nhiên điểm quan trọng sẽ tác động nhiều nhất đến những người sử dụng Internet ở VN chính là qui định về quản lý nội dung thông tin, cụ thể như sau:

Trước đây, mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khi thiết lập trang thông tin điện tử đếu phải có giấy phép.  Dự thảo Nghị định mới thể hiện rõ quan điểm người sử dụng có quyền đưa thông tin lên Internet và phải tự chịu trách nhiệm về những nội dung thông tin đó. Như vậy, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có thể tự thiết lập trang thông tin điện tử của mình, để quảng bá và giới thiệu về mình mà không cần có giấy phép. Điều đó sẽ tác động trực tiếp (tạo đk thuận lợi) đến hàng triệu người sử dụng Internet vì với sự phát triển của Internet, của chính phủ điện tử và thương mại điện tử, hàng vạn các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cần thiết lập website, hàng triệu người sử dụng đã và đang thiết lập blog. Theo dự thảo mới này, chỉ có những trang tin báo chí (báo điện tử) và những trang tin tổng hợp chính trị, kinh tế, xã hội là cần có giấy phép.

 

 

 

Độc giả: Thanh Xuan - Ha Noi
2. Về quản lý thuê bao trả trước: - Ông đánh giá như thế nào về tác động của việc quản lý thuê bao trả trước. Với tư cách là khách hàng, cá nhân tôi không cảm thấy phiền nhiễu gì. Tuy nhiên, mục đích chính của chính sách này là phục vụ công tác an ninh. Thế nhưng thực trạng hiện nay là Nhà nước không kiểm soát được nội dung đăng ký đúng hay sai, vậy thực sự việc này có đem lại lợi ích gì cho cơ quan công an hay không?

Thứ nhất xin khẳng định việc quản lý thuê bao trả trước là đúng đắn và cần thiết. Để hoàn thiện việc quản lý thì Bộ liên tục phối hợp với các Bộ ngành liên quan, chỉ đạo các doanh nghiệp hoàn thiện các chương trình quản lý và thực tế những bất cập ngày một ít. Chúng ta không thể có ngay bất kỳ một công việc nào hoàn thiện cả, mà trong quá trình thực hiện cần hoàn thiện dần.

Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - Vĩnh Long
a/- Tháng 7/2007 Bộ BCVT và Hội Nông dân Việt Nam đã ban hành chương trình phối hợp hoạt động đưa CNTT vào phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân giai đoạn 2007-2013. Trong đó giao Cục Ứng dụng CNTT tổ chức hướng dẫn triển khai thực hiện, nhưng đến nay Vĩnh Long chưa nhận được hướng dẫn gì. Xin cho biết có thể liên hệ với an để được hướng dẫn? b/- Xin Thứ trưởng cho biết về tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị 08/2007/CT-BBCVT về thúc đẩy phát triển CNTT-TT phục vụ nông thôn đối với các Sở BCVT và các đơn vị trực thuộc Bộ.

Cho đến nay, Bộ TT&TT chưa sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 08/2007/CT-BBCVT về thúc đẩy phát triển CNTT&TT phục vụ nông thôn vì Chỉ thị này mới được ban hành ngày 1/8/2007. Tuy nhiên, theo đánh giá sơ bộ của tôi, nhiều nơi đã có nhiều hoạt động thúc đẩy phát triển CNTT&TT phục vụ nông thôn. Đây là những tín hiệu cho thấy Chỉ thị 08/2007/CT-BBCVT đang được triển khai tích cực. Về phía Lãnh đạo Bộ, chúng tôi sẽ quan tâm chỉ đạo các đơn vị trong Bộ và các Sở BCVT nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã nêu trong Chỉ thị 08/2007/CT-BBCVT.

Về đầu mối liên lạc triển khai chương trình phối hợp giữa Bộ BCVT và Hội nông dân Việt nam, tôi đã yêu cầu anh Phúc Cục trưởng Cục ứng dụng CNTT liên hệ với bạn.

Độc giả: Huyen Anh - Ha Noi
- hiện nay quá trình cổ phần hoá các DN của ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, đang tiến đến đâu? - việc thực thi các cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực bưu chính viễn thông đã được thực hiện đến đâu tại thời điểm này? - Nghị Định về quản lý đầu tư trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông khi nào sẽ hoàn tất?

Thực hiện chủ trương Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ,  Bộ đã có chương trình kế hoạch trình Chính phủ và đã được phê chuẩn. Đến nay trên 40 Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, sản xuất thiết  bị, xây lắp công trình bưu chính viễn thông đã được Cổ phần hóa. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa rất tốt, tạo sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp. Hiện nay, Bộ đang tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông trong đó có công ty VMS. Có thể gọi đây là giai đoạn 2 triển khai cổ phần hóa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Đây cũng là một lĩnh vực mới cần có thời gian chuẩn bị kỹ, Bộ đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ lựa chọn công ty VMS làm thí điểm, sau đó sẽ đúc rút kinh nghiệm và triển khai cổ phần hóa các công ty khác. 

Việt Nam đã là thành viên của WTO, lĩnh vực BCVT&CNTT Việt Nam đã có những cam kết. Về cơ bản chúng tôi đang chỉ đạo và thực hiện các cam kết đúng tiến độ, đúng lộ trình. 

Nghị định hướng dẫn đầu tư trong lĩnh vực BCVT là một trong những cam kết với WTO. Chính phủ đã giao cho Bộ TT&TT xây dựng Nghị định về hướng dẫn đầu tư trong lĩnh vực BCVT chúng tôi đã hòan thành dự thảo, lấy ý kiến các bộ ngành, các địa phương và trên Website Chính phủ. Hiện nay  dự thảo Nghị định đã hòan thiện và trình Chính phủ. 

Độc giả: Nguyễn Nguyên Võ - Sở BCVT Bình Định
Hiện nay việc đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông nói chung, đầu tư xây dựng các trạm BTS và mạng cáp nói riêng đang được các doanh nghiệp đầu tư theo kế hoạch phát triển của Tổng Công ty hoặc Tập đoàn trên diện rộng, đa số đầu tư 01 dự án theo liên tỉnh với các giai đoạn khác nhau. Mặt khác, kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói chung chưa được quy định rõ về hạ tầng viễn thông trong các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng cho từng loại công trình. Chính vì vậy, các sở lúng túng trong việc hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Xin Thứ trường cho biết đến khi nào liên bộ Bộ TT và TT, Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông và Vận tải có văn bản hướng dẫn thực hiện vấn đề này.
Đa số các địa phương đã có quy hoạch phát triển BCVT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó đã có quy hoạch về phát triển hạ tầng BCVT trên địa bàn. Trong số các công trình BCVT, có những công trình thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành của Bộ TT&TT và cũng có những công trình liên quan đến phạm vi quản lý của các Bộ, ngành khác như giao thông, xây dựng... Đối với các công trình thuộc phạm vi quản lý của Bộ TT&TT, các chính sách quản lý, các văn bản hướng dẫn và các tiêu chuẩn kỹ thuật, về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu quản lý nhà nước của Bộ. Đối với các công trình có liên quan đến các Bộ, Ngành khác, bước đầu đã có văn bản hướng dẫn đối với các công trình như các trạm BTS, lắp đặt các hệ thống hạ tầng về BCVT trong các toà nhà cao tầng của các khu đô thị mới. Bộ đang tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng các văn bản hướng dẫn cho những loại công trình khác.
Độc giả: Dương - TP. Hồ Chí Minh
Kính gửi Thứ Trưởng, Hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ di động cạnh tranh, khuyến mãi, giảm giá cước là một dấu hiệu rất tích cực đối với người sử dụng dịch vụ vì được sử dụng với giá thành rẻ. Tuy nhiên có nhiều bất cập với tình trạng thuê bao ảo như: an toàn thông tin, quản lý thuê bao, lãng phí tài nguyên quốc gia,..Bộ đã ban hành quy định hành chính về quản lý thuê bao nhưng thực ra chưa hiệu quả Xin hỏi Bộ đã dự định bao giờ sẽ áp dụng biện pháp kỹ thuật, theo tôi đề xuất sử dụng công nghệ NUMBER PORTABILITY cho mạng di động. Với công nghệ mạng di động của các DN hiện nay đều đáp ứng được việc sử dụng công nghệ này. Các nước khác trên thế giới đã cho thấy hiệu quả vô cùng to lớn khi áp dụng công nghệ NUMBER PORTABLITY. Đề nghị thứ trưởng cho biết lộ trình Bộ sẽ áp dụng công nghệ này. Theo tôi càng sớm áp dụng công nghệ NUMBER PORTABILITY, việc quản lý thuê bao của các mạng di động sẽ dễ dàng, tài nguyên kho số quốc gia đựơc bảo đảm, các mạng di động phải tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng thật sự,... Rất mong nhận được ý kiến trả lời của Thứ trưởng

Bộ đã ban hành quyết định quản lý thuê bao, việc Bộ đưa ra quyết định
thì khi các doanh nghiệp triển khai chắc chắn phải dùng các biện pháp kỹ
thuật để thực hiện các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước. Chính
qui định và biện pháp kỹ thuật của các doanh nghiệp nhằm giải quyết vấn
đề quản lý thuê bao và giảm số thuê bao ảo. Sau khi ban hành, Bộ đã nhận
được báo cáo của các doanh nghiệp, sự phản ánh của báo giới và xã hội,
Bộ đã họp với các doanh nghiệp để tiếp khắc phục những tồn tại mà thực
tế phát sinh.
Giải pháp kỹ thuật mà bạn đưa ra hiện nay theo nghiên cứu thì chưa nên
áp dụng tại vì giải pháp kỹ thuật này nhằm th úc đ ẩy sự c ạnh tranh ở c
ác n ư ớc mà s ự ph át tri ển th ị tr ư ởng đ ã g ần đ ạt m ức b ão ho
à, v ới ph ư ơng ph áp n ày   s ẽ th úc đ ẩy s ự c ạnh tranh, nâng cao
chất lượng mạng, chất lượng của dịch vụ nhưng với nước ta việc áp dụng
này đang được nghiên cứu và áp dụng khi các điều kiện phù hợp.

Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - Vĩnh Long
Được biết năm 2006 Bộ BCVT đã có kế hoạch xây dựng đề án Chuyển dịch vụ hỗ trợ giải đáp thông tin mạng cố định nội hạt 116 của VNPT cho các sở BCVT quản lý để giải đáp thắc mắc cho khách hàng của mọi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cố định. Vậy đề án đó còn trở ngại gì chưa thấy triển khai
Thực hiện chính sách mở cửa thị trường, hiện trên thị trường đã có DN cung cấp dịch vụ điện thoại cố định. Dịch vụ hỗ trợ giải đáp thông tin 116 trước đây do 1 DN cung cấp, hiện nay đã có nhiều DN tham gia thị trường vì vậy để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, Bộ TT&TT đã có chủ trương xây dựng Đề án cung cấp dịch vụ 116 với ý tưởng thành lập các Trung tâm 116 theo mô hình là tổ chức sự nghiệp công lập, trực thuộc các Sở BC,VT địa phương và chuyển dịch vụ 116 từ các DN về cho các trung tâm này thực hiện. Tuy nhiên, khi triển khai Đề án đã gặp một số khó khăn, vướng mắc về cơ chế tài chính cho đầu tư cơ sở vật chất ban đầu và duy trì hoạt động thường xuyên, lâu dài của các trung tâm. Theo các quy định hiện nay của Nhà nước, việc hỗ trợ tài chính cho việc thành lập và duy trì hoạt động các trung tâm từ ngân sách địa phương và từ Quỹ Dịch vụ VT công ích VN (do Bộ TT&TT quản lý) đều gặp khó khăn, chưa phù hợp. Vì vậy, đề án chưa triển khai được. Hiện nay, Bộ TT&TT đang tiếp tục nghiên cứu về mô hình cung ứng dịch vụ 116, đảm bảo thuận lợi cho khách hàng của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ này.
Độc giả: Tâm Lê - Bình định
Chính phủ đã giao Bộ TTTT tiếp nhận và tiếp tục triển khai đề án 112, xin ông cho biết trách nhiệm chỉ đạo của Bộ đối với các địa phương hiện nay như thế nào? Nếu một địa phương có 2-3 cùng triển khai thì sao?Vai trò của sở BCVT trong công tác này là gì? Chương trình này có còn được Nhà nước hỗ trợ tài chính như 112 trước đây không ?

Ngay sau khi hoàn thành việc bàn giao kết quả của Đề án 112 giữa Bộ Thông tin & Truyền thông và Văn phòng Chính phủ vào ngày 27/12/2007, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tiến hành nghiên cứu đánh giá các kết quả của Đề án 112 cả về hạ tầng và các sản phẩm phần mềm để khai thác phục vụ cho việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Bộ TT&TT cũng đã có văn bản xin ý kiến các địa phương về dự kiến hướng dẫn chuyển giao kết quả Đề án 112 tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó khẳng định Sở BCVT là cơ quan chuyên trách về CNTT tại địa phương, có trách nhiệm triển khai các chức năng nhiệm vụ quy định tại điều 46 Nghị định 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

Trên cơ sở kết quả triển khai Đề án 112 và các đề án, dự án ứng dụng CNTT khác của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ TTTT đã trình và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2008, Kế hoạch này vừa được Thủ tướng CP ký ban hành ( QĐ số 43/QĐ-TTg) làm tiền đề cho việc xây dựng và triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2009-2010, từng bước xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt nam. Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2008 có hỗ trợ kinh phí cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách để triển khai ngay một số nhiệm vụ ứng dụng CNTT năm 2008.

 

Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - Vĩnh Long
Xin Thứ trưởng cho ý kiến về ý nghĩa, nội dung của Mục 4 Điều 62 Luật CNTT và theo Thứ trưởng đến khi nào Mục lục ngân sách nhà nước có bổ sung loại chi riêng về CNTT

Mục 4 Điều 62 Luật CNTT quy định "Trong Mục lục ngân sách nhà nước có loại chi riêng về CNTT" tạo điều kiện hạch toán riêng dự toán riêng dự toán chi NSNN cho ứng dụng CNTT từ khâu lập kế hoạch,triển khai cho đến khi quyết toán. Hiện nay, Mục lục NSNN chưa có loại chi riêng về CNTT, kinh phí cho ứng dụng CNTT đang nằm trong các loại, khoản kinh phí khác (ví dụ: trong kinh phí sự nghiệp giáo dục, đào tạo (Loại 14 khoản 11) cũng đã bao gồm phần chi cho ứng dụng CNTT, trong chi quản lý hành chính (Loại 13 khoản 01) cũng có phần chi cho ứng dụng CNTT...). Do chưa được hạch toán riêng nên rất khó cho việc tổng hợp dự toán chi NSNN cho ứng dụng CNTT.

Để triển khai Điều 63 Luật CNTT, nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn NSNN, Bộ Thông tin & Truyền thông đã tích cực phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng các chính sách hướng dẫn triển khai và đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, sớm bổ sung loại chi riêng về CNTT theo quy định của Điều 62 Luật CNTT và phù hợp với Luật NSNN.

Độc giả: Vũ Hải Yến - Phố Hào Nam Hà Nội
Trong tình hình phát triển mạng viễn thông hiện nay, ngành Bưu điện ít sử dụng cáp thông tin cáp đồng, cáp quang.Vậy xin Thứ trưởng cho biết Cấp lãnh đạo có định hướng như thế nào cho các doanh nghiệp trực thuộc chuyên sản xuất các loại sản phẩm này?

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới - WTO. Chúng ta phải thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến việc giảm dần và tiến tới loại bỏ hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước cho sản phẩm công nghiệp. Đối với CNpCNTT, Việt Nam hoàn toàn mở cửa, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực này.

Luật CNTT năm 2006, Nghị định 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật CNTT về CNp CNTT, Quyết định số 75/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển CNĐT Việt Nam đến năm 2010 đã tạo ra hành lanh pháp lý và định hướng cho sự phát triển ngành công nghiệp điện tử nước ta. Trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông qua các hoạt động R&D nhằm phát triển các sản phẩm trọng điểm – sản phẩm công nghệ cao, các hoạt động xúc tiến thương mại xuất khẩu, có chính sách ưu tiên hỗ trợ cho các Khu công nghệ cao, Khu chế xuất.

Do đó, các doanh nghiệp sản xuất cáp viễn thông cần phải:

-       Thường xuyên nghiên cứu các cơ chế, chính sách mới nhất của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực của mình

-       Chủ động xây dựng kế hoạch trung và dài hạn nhằm đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới theo tín hiệu của thị trường (Thí dụ, hiện nay thị trường hướng đến việc phát triển internet tốc độ cao, băng rộng, các dịch vụ đa phương tiện nên thị trường cáp đồng có xu hướng giảm còn thị trường cáp quang có xu hướng tăng, đó cũng là quy luật của thị trường).

Độc giả: Nguyễn Mậu Tuấn - Sở TTTT Qnam
Kính chào Thứ trưởng! Đầu tiên gửi lời chào và chúc sức khỏe đến Thứ trưởng. Nhân dịp giao lưu trực tuyến này tôi xin gửi đến Thứ trưởng một số câu hỏi như sau: 1. Về việc quy hoạch: hiện nay các Sở đang gặp nhiều khó khăn trong triển khai quy hoạch. Có thể nói quy hoạch làm xong thì cất kỹ. Vì mọi dự án là do doanh nghiệp thực thi, doanh nghiệp có thể không cần đoái hoài đến quy hoạch của tỉnh. Hiện nay, Bộ chưa có một hướng dẫn gì trong việc triển khai quy hoạch nên công tác kiểm tra, giám sát, và yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ quy hoạch của tỉnh nên Sở rất mơ hồ trong nhiệm vụ này. Cụ thể là Bộ chưa quy định Sở sẽ quản lý cái gì cụ thể đối với doanh nghiệp như về kết cấu hạ tầng BCVT. Kết cấu hạ tầng mà không nắm thì Sở biết quản lý cái gì. Không có quy định nên Sở yêu cầu doanh nghiệp không thực hiện cũng không biết phải làm sao. Câu hỏi này có lẽ đã đặt ra nhiều nhưng chưa có cách giải quyết cụ thể nào. Một vấn đề khác là các chỉ tiêu quy hoạch của tỉnh bây giờ đã đạt và vượt. Vậy Bộ đã có kế hoạch gì điều chỉnh các chỉ tiêu chưa. Một vấn đề không ổn là quy hoạch quốc gia chậm hơn quy hoạch tỉnh nên chỉ tiêu thường không đồng bộ. Vậy nên bây giờ các tỉnh sẽ chỉnh sửa quy hoạch dựa vào đâu? 2. BTS đang làm vấn đề nóng và làm khó khăn trong hoạt động của các Sở. Nếu giải quyết vấn đề BTS không xong sẽ làm giảm uy tín và vị thế của các Sở. Thông tư 12 ra đời nhưng không xem xét hết nhiệm vụ của Sở BCVT. Sở chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền để doanh nghiệp thực hiện thông tư, nhưng mọi hậu quả sau khi doanh nghiệp xây dựng BTS thì Sở BCVT phải chịu trách nhiệm giải quyết trước UBND tỉnh. Như: BTS xây dựng nhiều nhân dân lo ngại ảnh hưởng đến sức khỏe Sở BCVT phải đi giải thích nhưng BỘ chưa có giải thích thõa đáng vấn đề này BTS xây dựng phải thuê đất của dân, doanh nghiệp kêu cứu Sở BCVT có chủ trương, nhưng Thông tư có yêu cầu Sở như vậy đâu nên khó thực hiện Doanh nghiệp chuyển danh sách dựng BTS xin UBND tỉnh, UBND tỉnh lại chuyển yêu cầu Sở giải quyết, Thông tư lại không quy định Sở BCVT sẽ phải giải quyết cái gì doanh nghiệp tự đi liên hệ các cơ quan như thông tư quy định để dựng BTS thì được trả lời là phải có ý kiến của Sở BCVT thì mới giải quyết. Các vấn đề trên sở đã góp ý khi Thông tư còn dự thảo. Như vậy thì, Sở BCVT là ai, và được hiểu có vai trò gì trong vấn đề này? 3. Về viễn thông công ích: đây là vấn đề rất mơ hồ. Quỹ VTCI phân bổ chỉ tiêu số máy đến các doanh nghiệp địa phương và yêu cầu sở xác nhận sản lượng. Sở chỉ có các con số do doanh nghiệp báo lên, cơ sở đâu để xác nhận, thẩm định cái này. Đây có thể dẫn đến sự thất thoát lớn ngân sách đầu tư vì doanh nghiệp dễ dàng lách kế hoạch được giao. Thử hình dung một xã xa xôi hẻo lánh doanh nghiệp báo cáo phát triển vài chục thuê bao công ích, Sở sẽ xác nhận như thế nào. Đi đến trực tiếp điều tra từng hộ? kiểm tra trực tiếp từ tổng đài? ... Rất mơ hồ. Và tất cả các tỉnh báo cáo lên Quỹ, Quỹ cũng sẽ rất mơ hồ. Vậy đống tiền sẽ làm gì và giải như thế nào cho đúng? Tôi đề xuất một giải pháp như sau: Bộ nên giao nhiệm vụ phát triển VTCI cho Sở, Sở sẽ trực tiếp đặt hàng cho các doanh nghiệp phát triển thuê bao. Đồng thời sẽ bố trí các nhân viên quản lý thuê bao công ích tại các xã công ích nhân viên này có thể là cán bộ văn hóa thông tin của xã,.... Hàng tháng, nhân viên này có trách nhiệm lập danh sách các thuê báo có nhu cầu phát triển mới, thay đổi nhà cung cấp,... báo cáo về Sở, Sở sẽ xác nhận và báo lên Quỹ. Mọi công tác không qua doanh nghiệp, như vậy sẽ đảm bảo tính chính xác hơn. Sở sẽ nhận kinh phí công ích và chi trả cho doanh nghiệp, nhân viên các xã và trả cho các chỉ phí quản lý công ích do sở chịu trách nhiệm. Mong thứ trưởng xem xét. - Trước đây có đề án dịch vụ 116, hiện nay có tiếp tục triển khai nữa hay không? Đây là đề án có thể hỗ trợ hoạt động của các Sở, Bộ có chủ trương gì không. 4. Bài toán quản lý của các Sở bao giờ cũng không tách rời vấn đề nhân lực: nhân lực viễn thông về quản lý nhà nước ở các Sở đang có xu hướng chuyển sang doanh nghiệp. Thứ trưởng có suy nghĩ gì về vấn đề này? Sự chênh lệch lớn về thu nhập, có thể trên 10 lần đã làm cán bộ Sở chịu nhiều áp lực trong công tác. Phải nói rằng nhiệm vụ quản lý viễn thông là rất nặng nề và khó khăn, nhạy cảm. Sự chảy máu chất xám này có giải pháp gì để cầm máu. Thứ trưởng có thể đã rất hiểu, rất biết vấn đề này. Tôi biết ngay cả Bộ TTTT cũng đang chảy máu. Vậy, Bộ có chính sách gì hỗ trợ các Sở không? Tôi đề xuất Bộ nên nghiên cứu hỗ trợ cán bộ viễn thông các Sở mỗi tháng thêm một phẩy 1,00 lương có được không? Vấn đề này Bộ cũng không nên chuyển trách nhiệm cho UBND tỉnh, vì tỉnh cũng rất hạn hẹp về ngân sách, và nếu có hỗ trợ cho ngành TTTT thì sẽ không công bằng với các ngành khác. Vậy, Sở chỉ có trông chờ vào BỘ. Nếu vấn đề này không giải quyết tốt, tôi nghĩ một thời gian ngắn nữa, các Sở sẽ rất khát, rất thiếu và có thể sẽ không có cán bộ viễn thông và CNTT. 5. Hiện nay, nhiều Sở đã tiếp nhận quản lý tần số ở các Trung tâm TS khu vực. Như vậy, nhiệm vụ phòng viễn thông vốn đã nhiều, hiện nay càng nhiều hơn. Bộ có thể cho một chủ trương để các Sở được thu phí tần số ở địa phương để cải thiện đời sống cho cán bộ. Tôi có nghiên cứu các chính sách trả lương cho cán bộ quản lý viễn thông của một số nước trên thế giới, kinh phí hỗ trợ cán bộ quản lý viễn thông lấy từ ngân sách thu phí tần số vô tuyến điện quốc gia. vậy Thứ trưởng có chia sẽ gì đề xuất này? Có được hay không? 6. Phần mềm quản lý nghiệp vụ BCVT-CNTT: hiện nay Sở BCVT Quảng Nam đã xây dựng thành công phần mềm Mictsoft phục vụ công tác quản lý báo cáo số liệu từ các doanh nghiệp về Sở trên cơ sở đảm bảo các biễu mẫu báo cáo của BỘ và địa phương. Phần mềm này còn có quản lý cơ sở hạ tầng BCVT_CNTT. Phần mềm dùng trực tiếp quan mạng Internet nên rất thuận lợi, hiện nay nhiều sở các tỉnh đã tiếp nhận sử dụng và dùng thử. Quá trính sử dụng hơn 2 năm đã nhận nhiều ý kiến đồng tình ủng hộ của doanh nghiệp và các sở. Phần mềm ít nhiều đã cho thấy vai trò của Sở đối với doanh nghiệp và vị thế CNTT của tỉnh, phục vụ công tác quản lý tốt hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí. Kính mong Thứ trưởng quan tâm xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.

1. Theo quy định của Nhà nước, Quy hoạch phát triển BCVT và công nghệ thông tin hiện nay là quy hoạch “mềm”, quy hoạch định hướng khác với quy hoạch cứng như: quy hoạch đất đai, không gian, vùng lãnh thổ, quy hoạch các khu công nghiệp v.v…, vì vậy khi các tỉnh thành phố triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển BCVT và công nghệ thông tin đều theo hướng quy hoạch “mềm”, có nghĩa là các địa phương xây dựng các chỉ tiêu phát triển cho địa phương mình dựa trên đặc thù của từng địa phương và nhu cầu phát triển KTXH của địa phương cũng như dựa trên các chỉ tiêu phát triển chung của quy hoạch toàn quốc. Trong khi đó việc phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới ở địa phương của từng doanh nghiệp sẽ do doanh nghiệp căn cứ vào chính sách và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu phát triển KTXH của từng địa phương để đáp ứng để tự quyết định. Khi đó nếu các dự báo trong quy hoạch chính xác thì nhu cầu của doanh nghiẹp và nhu cầu của địa phưiơng  trùng nhau đáp ứng được và việc quản lý phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương là hoàn toàn quản lý được. Khi triển khai theo quy hoạch thì địa phương quản lý gì? đó là địa phương căn cứ việc phát triển mạng lưới của doanh nghiệp, yêu cầu doanh nghiệp xây dựng các đường vu hồi vòng tránh nhằm dảm bảo an ninh, an toàn thông tin trong mọi tình huống; khuyến khích hoặc yêu cầu các doanh nghiệp trong viẹc sử dụng chung cơ sở hạ tàng; thực hiện vai trò điều tiết trong qỉan lý Nhà nước, đặc biệt trong việc xây dựng các kế hoạch đảm bảo cung cấp dịch vụ VT công ích trên địa bàn địa phương theo yêu cầu phát triển KTXH của địa phương.

2. Triển khai Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Công văn số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn các Sở BCVT cần cụ thể hóa các tiêu chí nhằm xác định phạm vi và công bố Khu vực phải xin phép xây dựng tùy theo tình hình quy hoạch xây dựng đô thị tại địa phương. Cũng theo Thông tư liên tịch số 12/TTLT/BXD-BTTTT và văn bản số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn trên, thì vai trò của Sở là: Sở BCVT cần nắm bắt, yêu cầu các doanh nghiệp đề xuất kế hoạch và báo cáo dự kiến vị trí xây dựng các trạm BTS loại 2 ở đô thị và trên cơ sở quy hoạch phát triển ngành trên địa bàn để thống nhất với Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan của địa phương để khoanh vùng, xác định phạm vi cần xin phép xây dựng. Còn việc xin phép xây dựng khi phải xin phép là thực hiện theo các quy định hiện hành.

Về phần mềm quản lý, tôi hoan nghênh tính chủ động, sáng tạo của Sở BCVT Quảng Nam trong việc xây dựng và triển khai phần mềm phục vụ công tác quản lý báo cáo số liệu từ các doanh nghiệp. Tôi cũng được biết một số Sở BCVT đang tiếp nhận sử dụng phần mềm này. Đây là một nỗ lực rất đáng biểu dương của Sở BCVT Quảng Nam, góp phần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của các Sở BCVT, cơ quan phải gương mẫu đi đầu trong việc ứng dụng CNTT ở các địa phương.

Bộ TT&TT đã chỉ định Trung tâm thông tin là cơ quan chuyên trách về CNTT của Bộ TT&TT, có chức năng xây dựng xây dựng quy chế, quy định và tổ chức hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành theo quy định tại điều 46 Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Hiện cho Trung tâm thông tin  đang phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ bao gồm Vụ CNTT và Cục ứng dụng CNTT tìm hiểu, đánh giá phần mềm của Sở BCVT Quảng Nam nhằm đề xuất phương án sử dụng trong ngành.

 

Về hiện tượng chảy máu chất xám xin có ý kiến thế này: Hiện tượng cán bộ, công chức, viên chức ra khỏi cơ quan nhà nước đã xảy ra từ lâu, nhưng chỉ mang tính đơn lẻ, trong thời gian gần đây, hàng loạt công chức ra ngoài làm việc, vấn đề này không chỉ xảy ra riêng đối với các Sở BCVT mà còn diễn ra ở nhiều cấp, Bộ, ngành khác.  

Xét trên phương diện xã hội, chế độ xã hội chúng ta là chế độ xã hội công, vì nhân dân phục vụ. Nếu công chức giỏi chuyển từ khối cơ quan quản lý sang doanh nghiệp mà vẫn tiếp tục có đóng góp thiết thực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển thì cũng chính là góp phần phát triển kinh tế xã hội.

Muốn giữ chân công chức giỏi thì phải có chế độ đãi ngộ xứng đáng, điều kiện làm việc tốt. Tuy nhiên với điều kiện hiện nay, vấn đề giữ được cán bộ, công chức giỏi vẫn là điều trăn trở của nhiều cấp, nhiều ngành. Vấn đề này tôi vừa trả lời bạn Nguyễn Hữu Lương ở Long Xuyên, An Giang.

Việc bạn có đề xuất Bộ hỗ trợ thêm 1,00 lương cho cán bộ viễn thông của Sở là xuất phát từ những khó khăn thực tế của cán bộ viễn thông. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có cơ chế nào cho phép Bộ hỗ trợ về lương cho các Sở và nếu có, nguồn kinh phí để thực hiện cũng là vấn đề nan giải. Nguồn để trả lương cho cán bộ, công chức của Bộ là từ ngân sách nhà nước cấp,  theo quy định của Luật Ngân sách, các Bộ không thể và không được quyền cấp ngân sách cho địa phương, Bộ thông cảm và chia sẻ với những khó khăn, vướng mắc của Sở.

 

 

Độc giả: Song Hương - TP Huế
Bộ TT&TT có hẳn một Viện nghiên cứu chiến lược nhưng tại sao vai trò Viện này mờ nhạt vậy. Việc xây dựng các quy hoạch, chiến lược của các địa phương, với điều kiện dân trí, kinh tế, xã hội khác nhau, nhưng Viện thì chỉ cần nhân bản, điều chỉnh tí xíu. Ngay cả trong buổi trực tuyến trước, ông Hà ở Sở BCVT TP.HCM nói quy hoạch kiểu ấy không hiệu quả, tại sao ông Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng lại khẳng định hiệu quả. Thật tình tôi không hiểu? Xin Bộ hãy về kiểm tra các địa phương mà xem.

Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (trước đây là Viện Chiến lược Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin) là đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, được thành lập từ tháng 3 năm 2003. Trải qua 5 năm hoạt động và phát triển, Viện Chiến lược đã đạt được một số thành tựu về các mặt. Do hạn chế về thời gian, chỉ thông báo được với bạn một số kết quả nghiên cứu chính mà Viện đã đạt được:

a) Nghiên cứu phục vụ công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch quốc gia: Các chiến lược, quy hoạch sau đây do Viện chủ trì nghiên cứu, xây dựng đã được Chính phủ phê duyêt:

- Chiến lược phát triển CNTT&TT Việt Nam đến 2010 và định hướng đến 2020.

- Quy hoạch phát triển Bưu chính Việt Nam đến 2010.

- Quy hoạch phát triển Viễn thông và Internet Việt Nam đến 2010.

- Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020.

- 03 Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cho 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,  miền Trung và phía Nam.

- Định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.

- Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình đến năm 2020 (đang trong giai đoạn thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).

Hiện nay, Viện Chiến lược đang nghiên cứu, xây dựng:

- Quy hoạch phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam đến năm 2020.

- Quy hoạch các khu công nghệ thông tin tập trung đến năm 2020.

- Quy hoạch phát triển an toàn an ninh thông tin quốc gia.

Ngoài ra, cán bộ Viện còn tham gia tích cực vào các nhóm công tác nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công nghệ thông tin, Nghị định 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, Luật Tần số, Luật Viễn thông…

b) Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp Bộ

Trong giai đoạn 2003-2007, Viện Chiến lược đã chủ trì 22 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Hầu hết các đề tài đều được các Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại Tốt và Xuất sắc. Các kết quả nghiên cứu của các đề tài đã phục vụ tốt cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, công tác quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và CNTT của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Ngoài các nghiên cứu nêu trên, Viện Chiến lược còn được Bộ giao nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ và hướng dẫn với các Sở Bưu chính, Viễn thông trong cả nước trong công tác xây dựng Quy hoạch phát triển bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin của các địa phương. Các quy hoạch này có cấu trúc tương đối giống nhau và phải còn 1 năm vì được xây dựng căn cứ theo Nghị định 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ và áp dụng phương pháp luận thống nhất. Tuy nhiên, từng quy hoạch cụ thể được xây dựng căn cứ theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng phát triển bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và khả năng huy động nguồn lực của từng địa phương nên mang tính đặc thù. Các quy hoạch này đều đã được tổ chức lấy ý kiến của các sở ban ngành, doanh nghiệp trên địa bàn, được thẩm định theo đúng các quy định và đã được UBND tỉnh, hoặc thành phố phê duyệt nên có tính khả thi tương đối cao.

Độc giả: Đặng Minh Sơn - Hà Nội
Xin Thứ trưởng cho biết vì sao Hà Nội đến nay vẫn chưa có khu Công nghiệp phần mềm, một yếu tố theo tôi là có thể hỗ trợ tốt cho sự phát triển ngành này ở Thu đô trong khi đó nhiều địa phương như Thanh hoá , Hải Phòng cũng đã có.

Hiện tại, Hà Nội đã quy hoạch xây dựng một khu công nghiệp phần mềm nằm trong khu công nghệ cao Hoà Lạc, nhưng với tốc độ phát triển của ngành công nghệ thông tin hiện nay thì như vậy là chưa đủ. Sở dĩ có vấn đề này là do một số nguyên nhân chính như sau:

-       Các cơ chế chính sách của Hà nội về đầu tư phát triển hạ tầng, phát triển công nghiệp phần mềm hiện chưa theo kịp sự tiến bộ nhanh chóng của ngành CNPM, do vậy chưa tạo được sự đột phát trong ngành công nghiệp này.

-       Trong giai đoạn vừa qua Hà Nội chưa có chương trình phát triển Công nghiệp CNTT riêng được phê duyệt nhằm phát triển ngành CNPM nói chung và các khu CNPM  nói riêng

-       Trong bối cảnh hiện nay, với giá mặt bằng quá cao ở Hà Nội thì để đầu tư một khu CNPM tập trung có quy mô và chất lượng dịch vụ tốt thì đó là điểu cực kì khó khăn vì chi phí quá lớn.

Độc giả: Bùi Văn Thuyết - Thủ Dầu Một, Bình Dương
Tôi thấy các mạng di động lớn liên tục khuyến mãi, chưa hết đợt này đã đến đợt khác. Tất nhiên như vậy là tốt cho người dùng chúng tôi nhưng dù gì cũng phải thực hiện đúng luật, cạnh tranh lành mạnh. Thử hỏi Bộ có kiểm soát việc khuyến mãi không? Các mạng di động khuyến mãi liên tục cả năm như vậy có vi phạm luật cạnh tranh không?

Các doanh nghiệp viễn thông, trong đó có các doanh nghiệp di dộng hiện đang thực hiện nhiều chiến dịch khuyến mại nhằm để bán các sản phẩm của mình. Hiện khi các doanh nghiệp thực hiện khuyến mại đều phải thực hiện theo các quy định của Pháp lệnh quảng cáo khuyến mại và việc quản lý khuyến mại, cạnh tranh hiện đang do Bộ Công thương quản lý. Bộ TTTT và Bộ Công thương trong hoạt động của mình đều có những sự phối hợp để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp luật.

Độc giả: Nguyen Quyet - TP HCM
Cháu là 1 sinh viên, hiện nay cháu cũng đang dùng máy di động, tuy nhiên cháu thấy mức cước di động hiện còn đắt, liệu giá cước di động có thể giảm thêm nữa không ạ và bao giờ giảm ?

Giá cước các dịch vụ di động hiện nay của Viẹt Nam đã ở mức trung bình của khu vực. Hiện nay các công nghệ dịch vụ di động đang tiêp tục phát triển rất mạnh, số thuê bao tiếp tục tăng nhanh, giá thành thiết bị tiếp tục giảm, nên các nhà cung cấp dịch vụ di động có thể có điều kiện để nâng cao năng suất lao dộng, giảm chi phí giá thành và giảm giá cước. Năm 2008 này theo dịnh hướng quản lý giá cước thì thì các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại di động sẽ căn cứ vào thực tế thị trường, giá thành và điều kiện của doanh nghiệp để có mức điều chỉnh giảm cho phù hợp. Bên cạnh đó các nhà khai thác di động cũng sẽ tiếp tục đưa ra thị trường những gói cước phù hợp với các tầng lớp khách hàng khác nhau, cháu có thể chọn những gói cước phù hợp với sinh viên. Chúc cháu thành công.

Độc giả: Đoàn Oanh - Hà Nội
Tôi thấy báo chí đưa tin trong quý II năm nay Bộ sẽ thi tuyển giấy phép 3G. Trong khi có nhiều công ty muốn có giấy phép nhưng số lượng có hạn, liệu Bộ có chấp nhận cho các nhà khai thác chia sẻ giấy phép? Có chấp thuận cho việc chuyển nhượng giấy phép?

Hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông đã có quyết định qui định tổ chức thi tuyển cấp phép thiết
lập mạng và cung cấp dịch vụ di động 3G và đang xây dựng các tiêu chí để
các doanh nghiệp xây dựng đề án thi tuyển. Trong quyết định qui định về thi tuyển, Bộ có qui định khuyến khích sử dụng chung cơ sở hạ tầng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên viễn thông và hiệu quả đầu tư. Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép các doanh nghiệp hợp tác xây dựng và kinh doanh trên một lô tần số cùng lập chung một Hồ sơ thi tuyển.
Trong các qui định hiện hành hiện nay chưa cho phép các doanh nghiệp chuyển nhượng giấy phép.

Độc giả: Lê Quang Anh - Hà Nội
Trước hết xin cám ơn Bộ TTTT đã "nói là làm", tổ chức trả lời trực tuyến hàng tháng. Tuy nhiên, lần trả lời trước của ông Thứ trưởng khiến tôi thấy không thỏa đáng. Tôi mong lần này người dân chúng tôi sẽ không phải nhận được những câu trả lời chung chung "sẽ", "đang", "sắp" mà cần có lộ trình cụ thể, hành động cụ thể, để trả lời của chính quyền có trọng lượng, dân biết, dân tin. Xin cám ơn

Xin cảm ơn câu hỏi rất thẳng thắn và là góp ý cho Bộ TT&TT. Chúng tôi khẳng định rằng một số kế hoạch, chiến lược của Bộ nêu ra là sẽ thực hiện và phải thực hiện thành công. Có thể một số giải thích trước đây làm cho bạn hiểu lầm. Có thể khẳng định trong thời gian vừa qua, những lĩnh vực nóng liên quan đến phát triển CNTT-TT Bộ đã và đang chỉ đạo triển khai, đạt nhiều kết quả tương đối khả quan, ví dụ như đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của viễn thông, nhất là Internet băng rộng và di động. Thứ hai, tăng cường quản lý để bảo đảm tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng. Thứ ba, tạo mọi cơ chế, chính sách để thúc đẩy các doanh nghiệp vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, tạo đầu tư vừa tiết kiệm, vừa đồng bộ.

Đối với lĩnh vực CNTT, một lĩnh vực rất mới và tương đối khó, cho đến nay Bộ đang hoàn thiện tiếp một số văn bản QPPL, tạo điều kiện cho lĩnh vực này phát triển. Và trên thực tế, việc ứng dụng CNTT của Việt Nam đã được áp dụng rất thành công ở nhiều bộ, ngành. Ví dụ như Trang tin điện tử của CP và bây giờ đang nâng cấp lên cổng thông tin điện tử của CP, như hệ thống thông tin điều hành của Ngân hàng Nhà nước, của Kho bạc, hệ thống tài chính, công an, giáo dục và đào tạo. Đây là những mạng tổ chức ứng dụng CNTT có hiệu quả tốt, phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu của xã hội. Xin cảm ơn bạn.

Độc giả: Phạm Huy Vũ - Long An
Trước đây tôi nghe nói là Viettel cũng định cổ phần mạng di động của mình, nhưng sau đó lại nói không. Vậy có thể hiểu là việc cổ phần hóa là chuyện của doanh nghiệp hay không?

Viettel là Tổng công ty viễn thông thuộc cơ quan chủ quản là Bộ Quốc phòng. Tôi được biết trước đây tổng công ty này có dự định cổ phần hóa Viettel Mobile tuy nhiên do xu thế hội tụ các dịch vụ viễn thông, Tổng công ty viễn thông quân đội đã thay đổi lại mô hình tổ chức sản xuất nên chắc có những vấn đề chưa rõ nên chưa cổ phần hóa được. Các công ty hay tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực viễn thông (kể cả cung cấp hạ tầng mạng) không thuộc danh mục công ty 100% vốn nhà nước đều có thể được cổ phần hóa. Do vậy, các công ty, tổng công ty viễn thông cũng sẽ thực hiện cổ phần hóa theo quy định của Chính phủ. Thời gian và lộ trình thực hiện sẽ do cơ quan chủ quản Viettel xây dựng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Độc giả: Trần Ngọc Phước - 05 Hưng Đạo Vương, Phường 1 TX Vĩnh Long
Bộ TT&TT phân cấp chức năng nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, Mở các lớp tập huấn đào tạo cho CCVC các Sở về lĩnh vực BC, VT và CNTT. Bộ TT&TT rà soát và thống kê lại các văn bản phát luật về lĩnh vực BCVT, CNTT và Báo chí xuất bản.

Triển khai thực hiện Nghị định 13/2008/NĐ-CP về quy định của các CQ giúp việc UBND các tỉnh, thành phố, Bộ Thông tin và Truyền thông đang phối hợp với Bộ Nội vụ triển khai xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin và Truyền thông (trên cơ sở Sở BCVT hiện nay và bổ sung thêm chức năng quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản), tạo điều kiện để các Sở có thể nhanh chóng triển khai công tác quản lý nhà nước tại địa phương đạt hiệu quả cao.

Về công tác tập huấn đào tạo cho cán bộ công chức các Sở: trong năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ Bưu chính Viễn thông trước đây) đã tổ chức 8 lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ BCVT và CNTT cho các Sở trong cả nước. Bước đầu, nội dung tập huấn đã cung cấp các kiến thức thiết thực cho cán bộ công chức các Sở. Hiện nay, Bộ đang khẩn trương xây dựng kế hoạch và nội dung tập huấn chuyên sâu về công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin, Báo chí, Xuất bản để có thể triển khai sớm các lớp tập huấn cho cán bộ công chức các Sở.

Về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin, Báo chí, Xuất bản: Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong toàn ngành, Lãnh đạo Bộ TT&TT đã chỉ đạo Trung tâm thông tin và Vụ Pháp chế triển khai xây dựng chuyên mục pháp luật trên Website của Bộ Thông tin và Truyền thông. Dự kiến bao gồm các nội dung về giới thiệu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giải đáp pháp luật, tiếp nhận ý kiến phản ánh,...

Hiện tại các đơn vị đã tập hợp được đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin, Báo chí, Xuất bản. Đồng chí có thể liên hệ với Vụ Pháp chế (18 Nguyễn Du-Hà Nội, ĐT 04-9431909, Fax 04-9437313) để nhận văn bản.

Độc giả: Le Thu Thao - Ha Noi
Hiện nay Bộ TTTT đã bắt buộc các thuê bao trả trước phải khai báo đầy đủ thông tin cá nhân, tuy nhiên việc thực hiện quy định này và kết quả của nó không như ý muốn. Bằng chứng là thời gian qua báo chí đã nêu rất nhiều trường hợp khai báo thông tin giả, thậm chí tuổi của thuê bao lên tới ... 300 tuổi. Vậy Bộ có biện pháp gì để chấn chỉnh vấn đề này, liệu việc bắt buộc khai báo thông tin với thuê bao trả trước có hữu ích và nên làm?

Câu hỏi của bạn tương tự như câu hỏi của bạn Thanh Xuan , Ha Noi   thanhxuan1977@yahoo.com mà tôi đã trả lời. Bạn có thể xem câu trả lời đó.

Độc giả: Nguyễn Thị Bảo Phượng - 28b vạn bảo
xin thứ trưởng cho biết về việc xây dựng Nghị định Internet thay thế Nghị định 55 đã tiến hành đến giai đoạn nào? Có điểm gì mới của nghị định này sẽ tác động nhiều nhất đến những người sử dụng Internet ở VN

Bộ Thông tin và Truyền thông đã hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 55 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và đã trình Thủ tướng Chính phủ để ban hành. Nghị định thay thế Nghị định 55 được gồm có một số nội dung bổ sung, sửa đổi quan trọng như sau:

a)      Cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ Internet (dịch vụ kết nối, truy nhập, ứng dụng Internet): Đây là một trong các giải pháp thị trường mà Bộ sẽ sử dụng để thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện cho người sử dụng có thể lựa chọn các dịch vụ tốt, bằng cách cho phép các doanh nghiệp mới, các DN có năng lực tham gia vào thị trường.

b) Tạo điều kiện nâng cao chất lượng và giảm chi phí cung cấp dịch vụ: Nhằm thúc đẩy Internet phát triển, Nghị định thay thế Nghị định 55 qui định mọi doanh nghiệp Internet đều có quyền thuê kênh để trực tiếp kết nối với Internet quốc tế và với các trạm trung chuyển Internet. Đây là một trong các giải pháp về kỹ thuật nghiệp vụ giúp các DN giảm chi phí, và nâng cao chất lượng dịch vụ.

c) Thúc đẩy phát triển Internet băng rộng: Để thúc đẩy các dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao (xDSL), Nghị định cũng qui định buộc các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng viễn thông phải có trách nhiệm cung cấp đường truyền dẫn viễn thông và phân tách mạch vòng nội hạt khi có yêu cầu của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không có hạ tầng mạng có thể triển khai dịch vụ Internet băng rộng.

Hy vọng với những điểm mới trong Nghị định thay thế Nghị định 55 nói trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng, giảm giá thành dịch vụ Internet, tạo ra nhiều cơ hội sử dụng dịch vụ Internet và cơ hội lựa chọn sử dụng dịch vụ Internet chất lượng cao cho người dân.

 

Nghị định đưa ra các qui định nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc phát triển dịch vụ (về kết nối đặc biệt là kết nối quốc tế,  sử dụng chung cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính,…). Những chính sách đó sẽ mang lại cho người sử dụng khả năng sử dụng các dịch vụ Internet với giá thấp hơn và chất lượng cao hơn.  Tuy nhiên điểm quan trọng sẽ tác động nhiều nhất đến những người sử dụng Internet ở VN chính là qui định về quản lý nội dung thông tin, cụ thể như sau:

Trước đây, mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khi thiết lập trang thông tin điện tử đếu phải có giấy phép.  Dự thảo Nghị định mới thể hiện rõ quan điểm người sử dụng có quyền đưa thông tin lên Internet và phải tự chịu trách nhiệm về những nội dung thông tin đó. Như vậy, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có thể tự thiết lập trang thông tin điện tử của mình, để quảng bá và giới thiệu về mình mà không cần có giấy phép. Điều đó sẽ tác động trực tiếp (tạo đk thuận lợi) đến hàng triệu người sử dụng Internet vì với sự phát triển của Internet, của chính phủ điện tử và thương mại điện tử, hàng vạn các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cần thiết lập website, hàng triệu người sử dụng đã và đang thiết lập blog. Theo dự thảo mới này, chỉ có những trang tin báo chí (báo điện tử) và những trang tin tổng hợp chính trị, kinh tế, xã hội là cần có giấy phép.

Độc giả: Quang Phát - Người dân ở Ô Chợ Dừa, Hà Nội
Tôi thấy hiện nay ở Hà Nội, các đường dây điện thoại và Internet treo như mạng nhện trông rất mất mỹ quan, thậm chí nó còn là thòng lọng giết chết người đi đường. Vậy Bộ sẽ có biện pháp gì để giải quyết vấn đề này. Trong trường hợp người dân như chúng tôi bị tai nạn do những chiếc thòng lọng này thì sẽ được bồi thường ra sao?
Trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp đã triển khai mạng cáp, nhất là mạng cáp thuê bao, đúng là có hiện tượng như bạn nêu, Bộ đã yêu cầu các Sở phối hợp với cơ quan hữu quan của các tỉnh, thành, yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện đảm bảo an toàn và mỹ quan đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đã có chương trình này. Việc này Bộ đã có những buổi làm việc với Uỷ ban các tỉnh nhưng cũng cần sự phối hợp chỉ đạo chặt chẽ và quyết liệt của Uỷ ban nhân dân các Tỉnh, thành phố vì mỗi tỉnh, thành phố có những đặc thù hoàn toàn khác nhau.
Độc giả: Lê Ngọc Duy - hẻm 263, đường Lê Thị Riêng, TP.HCM
Lâu nay trên các phương tiện thông tin đại chúng các mạng di động vẫn tranh nhau nhận mình là số 1. Tại sao sau bao nhiêu năm phát triển viễn thông lẽ nào chúng ta không có được con số thuê bao thực của các mạng di động để công bố cho xã hội hay sao? Bao giờ Bộ chính thức ra tay để giải quyết vấn đề này?

Hàng năm Bộ vẫn có báo cáo về số thuê bao của các mạng nhưng để có số thực sự chính xác và cùng một thời điểm để so sánh giữa các doanh nghiệp thì còn phải có những qui định rất cụ thể ví dụ cước phát sinh tại thời điểm, thuê bao đã kích hoạt hay chưa, . . . nếu qui định quá chặt chẽ sẽ gây phiền nhiễu cho doanh nghiệp. Để tiến hành thống kê, các doanh nghiệp vẫn có báo cáo cho Bộ, nhưng thực tế trong 1 ngày thì có hàng nghìn thuê bao vào mạng cũng như hàng nghìn thuê bao ra khỏi mạng, do vậy dưới góc độ quản lý nhà nước thì việc quản lý quá chi tiết và chính xác có thể gây phiền nhiễu cho doanh nghiệp. Với những qui định của Bộ, hàng năm Bộ vẫn có những con số thống kê và thông báo về số thuê bao của các doanh nghiệp.

Độc giả: Nguyễn Văn Thanh - Vạn Thái, Hà Tây
Hiện nay các mạng di động luôn chạy đua khuyến mãi nhân 3 tài khoản. Trên thực tế nhiều khách hàng trong túi có hàng chục chiếc sim. Như vậy, nguồn lực của các mạng di động hay nói cách khác là tiền của Nhà nước đang bị các mạng di động lãng phí và để lại là số thuê bao ảo. Trong khi đó chúng tôi là những thuê bao trả sau của mạng Vinaphone gần chục năm nay nhưng chưa bao giờ nhận được sự chăm sóc gì từ nhà khai thác.Vậy Bộ có biện pháp gì để giải quyết vấn đề này hay không?

Trong cơ chế thị trường có cạnh tranh, các doanh nghiệp đưa ra các chương trình khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng là chuyện bình thường, tất nhiên phải đúng quy định của Luật cạnh tranh và phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Đúng là có hiện tượng 1 người có nhiều sim trả trước, để hạn chế hiện tượng này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định quản lý chặt thuê bao trả trước. Hiện các doanh nghiệp đang triển khai.

Việc bạn chưa bao giờ nhận được sự chăm sóc của Vinaphone, điều này phụ thuộc vào các chương trình chăm sóc khách hàng của Vinaphone.

Độc giả: Hải Long - 302 Khâm Thiên, Hà Nội
Chúng tôi là khách hàng của Vinaphone, nhưng lại không được hưởng mức cước như Viettel vì báo chí nói là Bộ vẫn phải giữ mức cước của Vinaphone cao hơn Viettel. Tại sao vậy và bao giờ chúng tôi được đối xử như khách hàng của Viettel?

Theo quy định hiện hành thì Viettel và Vinaphone đều thuộc danh mục dịch vụ và doanh nghiệp viễn thông chiếm thị phần khống chế. Theo quy định thì hai doanh nghiệp trên đều có địa vị pháp lý như nhau, được sự quản lý như nhau của Bộ và khách hàng của hai mạng là không phân biệt đối xử. Việc các DN trên quy định  mức cước dịch vụ điện thoại di động phụ thuộc vào  điều kiện sản xuất kinh doanh và chính sách của từng doanh nghiệp.

Độc giả: Thanh Tâm - Chủ doanh nghiệp dân doanh TPHCM
Được biết cả mạng Vinaphone cũng trong kế hoạch phải cổ phần hóa từ lâu. Vậy tại sao cho đến thời điểm này chúng ta chưa thấy động tĩnh gì? Theo ông có phải là nguyên nhân VNPT không muốn cổ phần hóa mạng di động này?

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Công ty Vinaphone cũng sẽ tiến hành cổ phần hóa. Tuy nhiên Vinaphone hiện đang chưa hình thành như một công ty hạch toán độc lập, đang có sự tham gia của các Viễn thông tỉnh, thành phố vào hạ tầng và cung cấp dịch vụ tới người dân. Do vậy, việc cổ phần hóa ngay là chưa thể thực hiện được. Bộ đang chỉ đạo VNPT khẩn trương triển khai. Ngoài ra chúng tôi dự kiến cổ phần hóa Công ty VMS trước để rút kinh nghiệm, sau đó xem xét cổ phần hóa Vinaphone.

Độc giả: Vũ Hồng Lanh - Cao Lãnh, Đồng Tháp
Hiện nay tôi thấy rất nhiều doanh nghiệp viễn thông dùng từ phục vụ mang tính xã hội. Nhưng tôi được biết là Bộ có hẳn đơn vị chuyên làm công ích cho xã hội. Vậy ông có thể nói rõ cho chúng tôi các doanh nghiệp nói như vậy có đúng không? Hiện nay đơn vị chuyên trách về làm công ích đã thực hiện được những gì?

Thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, hiện trên thị trường viễn thông đã có nhiều doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ cho xã hội.  nhà nước đảm bảo việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích cho người dân ở vùng sâu vùng xa thông qua quỹ dịch vụ viễn thông công ích do nhà nước thành lập. Việc thực hiện được giao cho các doanh nghiệp viễn thông. Vì vậy, trong hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông hiện nay, bên cạnh việc sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp vẫn có một phần thực hiện nhiệm vụ viễn thông công ích do nhà nước giao. 

- Hiện Bộ TT&TT đang quản lý Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam, Quỹ là tổ chức tài chính nhà nước thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp viễn thông thực hiện nhiệm vụ công ích trên cơ sở kế hoạch và định mức hỗ trợ của Bộ TT&TT, và xác nhận của các Sở TT&TT.

- Quỹ dịch vụ viễn thông công ích đã thực hiện, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp cung cấp cung ứng dịch vụ viễn thông công ích từ năm 2005 đến nay.

 

Độc giả: Dương Quang Kiên - Sở BCVT Bắc Giang, 45 Hùng Vương, Tp Bắc Giang
Hiện tại, nhu cầu đào tạo nhân lực cho các Sở BCVT, đặc biệt là các nhân lực trẻ về các nội dung: quản lý dự án, quản lý công, kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực BC, VT, CNTT, Phát thanh Truyền hình,..là rất cầp thiết. Xin hỏi hiện nay và trong tương lai gần ngoài các chương trình tập huấn nghiệp vụ như Bộ vừa triển khai cho các Sở trong thời gian qua, Bộ có các chương trình đào tạo dài hạn trong và ngoài nước nào không? Đề nghị Bộ sớm thông tin rộng rãi và đầy đủ để các đơn vị, cá nhân quan tâm có thời gian chủ động chuẩn bị các điều kiện phù hợp.

Kiến thức chuyên sâu về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin: hiện nay các trường đại học đã có những khoa đào tạo dài hạn, chuyên sâu về các lĩnh vực này, các cán bộ, công chức của Bộ, Sở đương nhiên phải có kiến thức này rồi.

Bộ đang tích cực tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ quản lý nhà nước cho cán bộ các Sở.

Bộ cũng đang xem xét để có thể tổ chức các đoàn cán bộ công chức đi tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài, Sở cố gắng bố trí để cán bộ của Sở cùng tham gia. Tuy nhiên, vấn đề kinh phí là trở ngại cho việc tổ chức các đoàn ra, để giải quyết vấn đề này, Bộ đang tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, tạo sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nước các doanh nghiệp nước ngoài.

Độc giả: Đỗ Văn Hoàng - Cầu Gỗ, Hà Nội
Tôi được biết là Bộ cấp phép cho rất nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và điện thoại cố định, nhưng tại sao tôi không thấy họ cung cấp dịch vụ?

Có thể bạn không thấy vì họ chưa cung cấp tại khu bạn sống, ví dụ SPT mới cung cấp ở khu Phú Mỹ Hưng, thành phố Hồ Chí Minh nhưng chưa cung cấp tại Hà Nội.

Độc giả: ICTnews - hà nội
Tôi là một nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến thị trường viễn thông Việt Nam. Qua thông tin báo chí Việt Nam chúng tôi được biết các ngài đã đề cập đến việc sáp nhập các mạng di động. Vậy các ngài đã chuẩn bị cơ chế cho việc sáp nhập hay chưa? Lộ trình như thế nào? Chính phủ sẽ can thiệp hay để doanh nghiệp tự nguyện sáp nhập. Trân trọng cám ơn ngài. subhash@subhashrai.com

Cảm ơn ông đã quan tâm đến thị trường viễn thông Việt Nam. Trong xu thế phát triển cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, chắc chắn sẽ có sự phát triển cũng như sự phá sản của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, một phần có sự điều tiết của nhà nước, một phần do thị trường điều tiết, trong quá trình phát triển, sự phá sản, sáp nhập của doanh nghiệp là chuyện bình thường.

Độc giả: ictnews - hà nội
Trong triển khai các dự án đầu tư CNTT, các cơ quan lâu nay đang rất bế tắc do thiếu định mức, đơn giá đặc thù. Xin Thứ trưởng cho biết khi nào Bộ TTTT hoàn tất định mức, đơn giá này? Độc giả: Lương Thanh Hà, TP Hải Phòng gửi.

Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật về tư vấn và thiết kế dự án CNTT. Chúng tôi đang tích cực triển khai nhiệm vụ này. Tuy nhiên, do khối lượng công việc rất lớn lại mới mẻ nên việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức (dự kiến đến cuối năm 2008 mới có được). Trong khi chưa có các định mức, đơn giá  này, có thể thực hiện như sau:

- Việc lắp đặt thiết bị CNTT áp dụng đơn giá nhân công theo Định mức, đơn giá xây dựng công trình chuyên ngành BCVT (đã được Bộ TTTT ban hành).

- Việc mua sắm, đầu tư thiết bị phần cứng, phần mềm đóng gói (có sẵn trên thị trường) thực hiện như đối với mua sắm hàng hoá thông thường.

- Chi phí tư vấn lập, thẩm định dự án, thiết kế - tổng dự toán, tư vấn giám sát, quản lý dự án, …: Vận dụng theo các quy định hiện hành.

- Đối với phần mềm xây dựng theo yêu cầu riêng (phần mềm ứng dụng): Điều 29 Nghị định 64/2007/NĐ-CP cho phép như sau: Tổng mức đầu tư của dự án phần mềm ứng dụng nếu không thể xác định được theo các quy định hiện hành thì có thể được xác định bằng các phương pháp định cỡ và ước lượng chi phí phần mềm theo thông lệ quốc tế, (tham khảo) cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này; Khuyến khích thực hiện dự án phần mềm ứng dụng theo hình thức gói thầu EPC.

Độc giả: Đỗ Minh Đức - 145/4 Phan Bội Châu - tp Quy Nhơn - Bình Định
Chủ trương của Nhà nước, Chính phủ là đẩy mạnh và phát triển PMNM. Vậy việc Microsoft và Chính phủ thúc đẩy hợp tác để phát triển một ngành CNCNTT-Viễn thông năng động của Việt Nam có đi ngược với chủ trương trên đây không? Xin Thứ trưởng giải thích rõ hơn để chúng tôi có thể thấy được rõ hơn mục tiêu ấy.

Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng và phát triển PMNM chỉ là một trong các chính sách và giải pháp phát triển CNPM nước ta. Việt nam đã là thành viên của APEC và cam kết trung lập về mặt công nghệ nên không phân biệt sử dụng phần mềm đóng hay mở. Vấn đề ở đây là do chi phí bản quyền phần mềm thương mại là khá cao nên cùng với việc đàm phán với các tập đoàn phần mềm như Microsoft để có được thoả thuận mua phần mềm của họ với giá hợp lý nhất có thể, Việt Nam cũng cần có các giải pháp, chiến lược dài hạn nhằm khuyến khích phát triển các phần mềm của mình, trong đó đặc biệt là khai thác sử dụng phần mềm mã nguồn mở nhằm tăng tính chủ động về công nghệ, giảm dần sự phụ thuộc.

Mua bản quyền MS Office còn thể hiện quyết tâm chống vi phạm bản quyền phần mềm của Chính phủ, tăng cường quản lý và xử lý nghiêm vi phạm bản quyền phần mềm, tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ phù hợp với các cam kết gia nhập WTO. Giảm tỉ lệ vi phạm bản quyền sẽ tạo ra môi trường tốt để thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển CNPM trong nước phát triển. Điều này hoàn toàn không đi ngược với chủ trương đẩy mạnh và ứng dụng phát triển PMNM.

Song song với việc mua bản quyền của MS, nhà nước còn đồng thời có các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển PMNM như: Quyết định 169/2006/QĐ-TTg223/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư 02/2007/TT-BBCVT ngày của Bộ BCVT hướng dẫn chi tiết một số nội dung đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và Quyết định 08/200/QĐ-BTTTT ban hành Danh mục các sản phẩm PMNM đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước

Độc giả: ictnews - hà nội
Nhiều cơ quan nhà nước đang quan tâm đến phần mềm nguồn mở, nhằm tiết giảm chi phí. Tuy nhiên, cái khó là triển khai ứng dụng phần mềm này với nhiều nơi đòi hỏi phải có tư vấn, hỗ trợ từ các tổ chức cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, như vậy phải mất phí cho dịch vụ hỗ trợ. Nhưng hiện nay không có mục chi nào cho dịch vụ hỗ trợ phần mềm. Bộ TT&TT đã có kế hoạch này giúp các cơ quan xử lý vấn đề này? Một cán bộ tin học Bộ GDĐT

Đối với người sử dụng, việc sử dụng phần mềm nguồn mở hay nguồn đóng không quan trọng và phần mềm nào cũng có chi phí tư vấn, hỗ trợ. Mục đích chính khi người sử dụng lựa chọn các sản phẩm phần mềm đóng hay mở là: giá mua phần mềm, chất lượng phần mềm, tính chủ động, độc lập không phụ thuộc vào các nhà cung cấp. Việc chi cho triển khai ứng dụng PMNM hiện nay cũng được thực hiện như việc chi cho phát triển, ứng dụng các phần mềm thông thường theo quy định của pháp luật.

Còn để thúc đẩy việc ứng dụng PMNM, thực hiện Quyết định 169/200/QĐ-TTg223/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ BCVT (nay là Bộ TTTT) đã có Thông tư 02/2007/TT-BBCVT hướng dẫn chi tiết một số nội dung đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và Quyết định 08/200/QĐ-BTTTT ban hành Danh mục các sản phẩm PMNM đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước.

Độc giả: Võ Hữu Cương - Hà Nam
Tôi là thuê bao của mạng HT Mobile, vừa qua mạng này có chuyển công nghệ sang GSM. Thế nhưng chúng tôi không thấy họ tuyên bố sẽ đền bù tiền mua máy cho chúng tôi. Vậy Bộ sẽ có biện pháp gì để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng? Trong trường hợp chúng tôi không thỏa mãn cách giải quyết của HT Mobile, chúng tôi sẽ gửi đơn kiện lên bộ phận nào trên Bộ?

Trong đề án chuyển đổi công nghệ của mạng HTMobile, vấn đề bảo vệ quyền lợi khách hàng là một trong những nội dung quan trọng mà Bộ yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ phải tuân theo. Hiện HT Mobile; đang đưa ra các giải pháp như:  miễn phí cài đặt lại điện thoại di động, cho phép khách hàng tiếp tục sử dụng điện thoại CDMA của mình  chuyển đổi sang mạng CDMA khác...và còn nhiều giải pháp khác như tiếp tục sử dụng số 092 … trong suốt quá trình chuyển đổi, cung cấp miễn phí chuyển cuộc gọi…Bộ TTTT và các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan hiện đã yêu cầu HT Mobile khi chuyển đổi công nghệ phải có các biện pháp bảo đảm quyền lợi cho các khách hàng đang sử dụng dịch vụ của HTMobile trên cơ sở các quy định pháp lý hiện hành. Còn đối với các yêu cầu cụ thể đề nghị bạn có liên lạc trực tiếp với bộ phận xử lý chuyển đổi của HTMobile để được giải quyết.  

Độc giả: ictnews - hà nội
Lê Ngọc Duy, hẻm 263, đường Lê Thị Riêng, TP.HCM: Tôi nghe nói là ở Việt Nam sẽ có chính sách cho phép khách hàng chuyển mạng nhưng giữ nguyên số. Đây là việc đã được nhiều nước thực hiện từ lâu. Thông tin này có đúng không và bao giờ thì bắt đầu?

Việt Nam chưa có chính sách này. Đã có một số nước thực hiện nhưng chỉ có một số ít các nước có tỉ lệ công nghệ phát triển cao. Bộ đang nghiên cứu và đưa vào văn bản quy phạm pháp luật và cho phép các doanh nghiệp thực hiện khi có điều kiện.

Độc giả: Phạm Đức Nghị - 15 Nơ Trang Long Buôn Ma Thuột
Được biết Bộ trưởng mới có chuyến viếng thăm các tỉnh Tây nguyên trong tháng 3/2008. Ấn tượng của Bộ trưởng cũng như sự quan tâm đặc biệt gì đối với vùng đất mở màn chiến dịch 1975. Theo Bộ trưởng để Tây nguyên phát triển cần tranh thủ những cơ hội gì ? Xin cám ơn Bộ trưởng.!

Cảm ơn bạn về câu hỏi này. Tôi sẽ chuyển câu hỏi này tới đồng chí Bộ trưởng Lê Doãn Hợp và chắc chắn đồng chí Bộ trưởng sẽ có dịp trả lời bạn trong những dịp trả lời tực truyến tới.

Tuy nhiên, tôi xin khẳng định rằng đối với miền Trung và Tây Nguyên, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên, Ban cán sự Đảng Bộ BCVT trước kia  - nay là Bộ TT&TT - luôn luôn khẳng định đây là một địa bàn rất khó khăn và cần phải có nhiều sự quan tâm, hỗ trợ từ Trung ương.

Thực tế, trong thời gian vừa qua, Bộ TT&TT đã có những kế hoạch chỉ đạo các doanh nghiệp ưu tiên đầu tư phát triển cho khu vực Tây Nguyên. Ví dụ như mạng di động, đặc biệt là mạng thông tin cố định vô tuyến đã được ưu tiên triển khai sớm ở Tây Nguyên. Trong chương trình triển khai dịch vụ viễn thông công ích của Bộ, các tỉnh Tây Nguyên được ưu tiên bố trí tối đa.  

Độc giả: ictnews - hà nội
Tôi là người sinh sống ở Phú Thọ, thế nhưng khi gọi điện thoại sang huyện khác trong tỉnh thì bị tính cước liên tỉnh trong khi chúng tôi đang sống ở những nơi thu nhập thấp. Trong khi đó ở nội thành Hà Nội gọi sang Sóc Sơn thì vẫn chỉ tính là cước nội hạt. Thứ trưởng có cho rằng đây là sự bất công hay không? Hà Việt Dũng, Hạ Hòa, Phú Thọ

Trong quy định về quản lý giá cước thì cước điện thoại được chia ra làm: cước điện thoại nội hạt, cước điện thoại nội tỉnh và cước điện thoại liên tỉnh. Cước điện thoại nội hạt là giá cước mà khách hàng phải trả khi thực hiện liên lạc trong phạm vi nội hạt; cước điện thoại nội tỉnh  là giá cước mà khách hàng phải trả khi thực hiện liên lạc trong phạm vi nội tỉnh ( giữa các huyện, giữa thị xã-huyện ); cước điện thoại liên tỉnh giá cước mà khách hàng phải trả khi thực hiện liên lạc từ tỉnh này sang tỉnh khác. Theo quy định về địa giới hành chính hiện hành thì chỉ có Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng phạm vi nội hạt là toàn thành phố còn các tỉnh thành phố khác phạm vị nội hạt chỉ là thị xã vì vậy tại Phú Thọ khi gọi điện thoại sang huyện khác trong tỉnh sẽ phải trả cước điện thoại đường dài nội tỉnh. Hiện Bộ TTTT đang nghiên cứu đề án điều chỉnh cước điện thoại nội hạt, nội tỉnh, hoà đồng các mức cước này cho phù hợp với sự phát triển của công nghệ, thị trường.       

Độc giả: ictnews - hà Nội
Tại sao cho đến thời điểm này việc cổ phần hóa MobiFone chưa có nhiều tiến triển? Theo ông, với tiến độ như vậy chúng ta có lo ngại MobiFone không thể cổ phần hóa xong trong năm 2008? Trong trường hợp như vậy, trách nhiệm sẽ thuộc về ai thưa ông? Một nhà đầu tư ở Hà Nội dung2927@yahoo.com

Cổ phần hóa Công ty VMS đang tích cực triển khai thực hiện. Trong quá trình triển khai đã gặp một số khó khăn:

- Việc thanh lý hợp đồng BCC với đối tác nước ngoài có sự chậm trễ do nguyên nhân khách quan. Ngay sau khi thanh lý xong hợp đồng BCC với đối tác nước ngoài, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa của Bộ đã tích cực chỉ đạo Công ty VMS đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa.

- Việc cổ phần hóa Công ty VMS cũng gặp phải một số vướng mắc về cơ sở pháp lý như việc lựa chọn đơn vị tư vấn cổ phần hóa nước ngoài và chi phí cổ phần hóa có cao hơn mức quy định hiện nay. Ban Chỉ đạo cổ phần hóa phải trình các cơ quan thẩm quyền về những vấn đề này.

- Công ty VMS là công ty lớn, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông nên thật sự chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện cổ phần hóa. Đây là đơn vị đầu tiên thực hiện cổ phần hoá trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông. Quan điểm của Bộ là triển khai khẩn trương, thận trọng và đảm bảo đánh giá đúng giá trị của Công ty VMS. Điều này cũng có nghĩa là bảo đảm không thất thoát vốn nhà nước.

Hiện nay, Tập đoàn BCVT Việt Nam và Công ty VMS đang khẩn trương lựa chọn đơn vị tư vấn nước ngoài để có thể sớm triển khai các bước tiếp theo của qui trình cổ phần hóa doanh nghiệp. Quá trình cổ phần hoá VMS sẽ được cố gắng hoàn thành trong năm 2008.

Độc giả: Võ Xuân Thanh - Quy nhơn- Bình định
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT là một việc rất quan trọng nhưng không dễ dàng vì cần nhiều yếu tố, trong đó có vấn đề tài chính, các tỉnh không dám vượt rào khi chưa có hướng dẫn . Xin thứ trưởng cho biết đến khi nào thì Bộ Thông tin và truyền thông và Bộ tài chính có Thông tư hướng dẫn mục chi cho sự nghiệp ứng dụng và phát triển CNTT Theo điều 63- Luật CNTT

Đẩy mạnh UDCNTT là một trong những nhiệm vụ ưu tiên trọng tâm hàng đầu hiện nay của Bộ. Để triển khai thực hiẹn, lien quan tới các vấn đề tài chính, Bộ TTTT đã có văn bản hướng dẫn việc xây dựng  kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2007 - 2010 trong hoạt động của các cơ quan nhà nước gửi các Bộ, ngành, địa phương; Văn bản hướng dẫn chi sự nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin năm 2008 cho các Bộ, ngành, địa phương.

Liên quan đến Thông tư hướng dẫn  việc quản lý và sử dụng kinh phí chi ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước: Thực hiện triển khai Điều 63 Luật CNTT, xây dựng khung pháp lý về tài chính cho ứng dụng CNTT dùng nguồn vốn NSNN, Bộ Bưu chính, Viễn thông, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông đã tích cực phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Thông tư liên tịch Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí chi ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Dự thảo Thông tư liên tịch đã được Bộ Tài chính gửi lấy ý kiến tham gia của các Bộ, Ngành, địa phương trong toàn quốc. Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến tham gia, Ban đồng soạn thảo của 02 Bộ đã thống nhất các nội dung của dự thảo cuối cùng. Hiện tại, Bộ Tài chính đang hoàn tất nốt các thủ tục còn lại để ban hành Thông tư liên tịch. 

Độc giả: Nguyễn Hữu Lương - Long Xuyên - An Giang
Tôi xin phép thông qua mục trao đổi này của Bộ TT-TT để không phải góp ý về web site mà là một số ý kiến chung hơn. Tôi thấy ngay cả NĐ 64 chắc là do Bộ soạn cho Thủ tướng mà đến nay có thể nói là vẫn chưa thể gọi là được triển khai.Bộ chuyên ngành, tham mưu chính cho các chương trình ứng dụng CNTT quốc gia mà cụ thể là chương trình xây dựng CPĐT mà không thấy đưa ra được lực lường nòng cốt để triển khai ở cơ sở. Theo tôi Bộ phải mạnh dạng đề nghị Thủ tướng cho thành lập các phòng CNTT ở tất cả các Sở, ban, ngành trong cả nước để tạo lực lượng nền này. - Đề nghị chú trọng đến thu nhập của những người làm công tác CNTT để thu hút nhân tài

Lực lượng nòng cốt để triển khai ở cơ sở:

Bộ Bưu chính, Viễn thông trước đây (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã trình Chính phủ nghị định thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông). Các Bộ, ngành đều thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin hoặc Cục Công nghệ thông tin.

Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP, các Trung tâm Công nghệ thông tin hoặc Cục Công nghệ thông tin được gọi là đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin; ở địa phương Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan chuyên trách về Công nghệ thông tin (trong Sở có phòng Công nghệ thông tin và có Trung tâm Công nghệ thông tin - đơn vị sự nghiệp).

Thu nhập của những người làm công tác CNTT:

Đây là vấn đề chúng tôi đã trăn trở trong nhiều năm nay. Cơ chế chung của Nhà nước hiện nay về tiền lương có nhiều bất cập cho việc tuyển dụng các cán bộ làm công tác CNTT tại các Bộ, ngành và địa phương. Phải công nhận thực tế là có sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa khu vực nhà nước với doanh nghiệp, và với khu vực đầu tư nước ngoài. Sự bất cập này cũng xảy ra đối với tất các các Bộ, ngành chứ không riêng gì lĩnh vực CNTT. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu cơ chế đặc thù để báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đầu tư cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT.

Vấn đề trả lương cho cán bộ công chức làm CNTT chắc chắn phải theo chế độ tiền lương chung của Nhà nước. Hiện nay Trung ương và Chính phủ đang có những chương trình, đề án để giải quyết vấn đề này. Chúng tôi khuyến khích các đơn vị làm công tác chuyên trách CNTT tại các Bộ, ngành và địa phương mở rộng hoạt động sự nghiệp để tạo thêm nguồn thu, từ đó có chính sách cải thiện thu nhập cho cán bộ làm công tác CNTT.

Độc giả: NguyenBaoTrong - HaLong-QuangNinh
Thưa Thứ trưởng, Ông đánh giá như thế nào về tình hình phát triển ADSL tại Việt Nam. Hiện tại tốc độ đường truyền vẫn rất thấp nhất là vào giờ cao điểm. Bộ đã có những biện pháp gì để khắc phục? và giá cước vẫn còn ở mức khá cao so với khu vực và trên thế giới?

Ở các thành phố lớn cũng như trong cả nước, tình hình phát triển thuê bao ADSL trong những năm qua là rất đáng khích lệ, số thuê bao tăng nhanh chóng. Đây là dấu hiệu đáng mừng, việc sử dụng băng rộng tăng nhanh chứng tỏ nhu cầu rất lớn phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Tôi công nhận trong quá trình phát triển thì có lúc số thuê bao tăng nhanh hơn dung lượng đường truyền mà các doanh nghiệp cung cấp. Dự báo tình hình này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu và chỉ đạo các doanh nghiệp cần quan tâm, có kế hoạch đầu tư lớn cho băng rộng và trên thực tế trong những năm gần đây các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng đầu tư phát triển hạ tầng băng rộng. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng phải tính toán thuê kênh đi quốc tế để đảm bảo doanh thu, đảm bảo lãi cho doanh nghiệp, không thể ngay 1 lúc mà dung lượng đường truyền đảm bảo không nghẽn trong giờ cao điểm. Đây là vấn đề cần được mở rộng dung lượng đường truyền dần dần, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cũng như cam kết với người sử dụng. Bộ đã chỉ đạo Cục quản lý chất lượng tiến hành kiểm tra đo thử tốc độ của các nhà cung cấp dịch vụ và công bố chất lượng để các doanh nghiệp thực hiện.

 

Độc giả: Phạm Hồng Thịnh - Gia Lâm, Hà Nội
Xin hỏi Thứ trưởng, giá cước điện thoại di động giảm liên tục nhưng sao giá cước điện thoại cố định không giảm vậy? Trong năm 2008, cước di động sẽ giảm như thế nào? Xin cám ơn.

Dịch vụ điện thoại di động mới được đưa vào Việt Nam trong hơn 10 năm qua, thời gian qua do công nghệ di động có những bước phát triển hết sức nhanh chóng, nên giá cả thiết bị mạng lưới cũng như thiết bị đầu cuối cũng có điều kiện giảm, suất đầu tư / line di động giảm, nên các nhà khai thác, cung cấp dịch vụ di động trên toàn thế giới có điểu kiện giảm giá cước dịch vụ. Bên cạnh đó do tính phổ cập của dịch vụ di dộng ngày càng tăng, số người sử dụng ngày càng nhiều, do tính linh hoạt của loại hình dịch vụ nên dịch vụ di động có khả năng tổ chức được nhiều loại gói cước da dạng phong phú, có thể đáp ứng được nhu cầu của nhiều loại tầng lớp khách hàng, nên số thuê bao phát triển nhanh chóng, do đó nhờ lợi thế qui mô, nên giá cước dịch vụ có điều kiện ngày càng giảm. Trong khi đó giá cước dịch vụ điện thoại cố định ở Việt Nam do lịch sử để lại và do chính sách nên hiện đang được cung cấp dưới giá thành. Giá cước dịch vụ điện thoại cố định ở Việt Nam hiện nay là rẻ nhất thế giới, khó có thể giảm thêm được. Bên cạnh đó do việc mở cửa thị trường, gia nhập WTO, nên hiện nay giá cước dịch vụ điện thoại cố định không còn được bù chéo nữa,  vì vậy các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại cố định hiện nay đang phải tìm cách cung cấp dịch vụ tiến tới giá thành theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, không bao cấp, bù chéo, đưa các dịch vụ về giá thành theo cơ chế thị trường.

Trong năm 2008 theo định hướng cong tác quản lý giá cước các dịch vụ VT thì các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại di động sẽ căn cứ vào thực tế thị trường, giá thành và điều kiện của doanh nghiệp để có mức điều chỉnh giảm cho phù hợp.  

Độc giả: ICTnews - 243 Cầu giấy
Nhờ ICT News chuyển giúp: Tôi đọc báo thấy Bộ kêu lên với Chính phủ là có quá nhiều mạng di động, nhiều đài truyền hình làm tài nguyên tần số sử dụng không hiệu quả. Bộ được Chính phủ giao quản lý, xây dựng quy hoạch này mà còn kêu thì người dân, doanh nghiệp biết kêu ai? Vũ Bình Minh, quận 12, Tp. HCM, Email: Abc123@yahoo.com

Một đặc điểm của nền kinh tế thị trường là có sự cạnh tranh, do vậy với nhiều mạng di động thì đối với người sử dụng (người dân) sẽ có cơ hội để lựa chọn cho mình nhà cung cấp dịch vụ có giá cả cạnh tranh, dịch vụ tốt nhất, đối với nhà cung cấp dịch vụ đây chính là động lực nhằm mục đích tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cho các nhà quản lý. Đối với truyền hình thì hoàn toàn khác, tuy số lượng chúng ta thấy nhiều (6, 7 Đài) nhưng chủ yếu là các đài địa phương chỉ phủ sóng trong phạm vi 1 tỉnh thành phố. Để hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên tần số, hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông đang trong giai đoạn cuối hoàn thiện qui hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình đến năm 2020 để trình Chính phủ.

Độc giả: ĐỖ TẤN HUY - 41C Nguyễn Trãi Tuy Hòa - Phú Yên
Xin đại diện Bộ bưu chính Viễn Thông cho biết việc mạng di động HT mobile chuyển đổi sang công nghệ eGSM thì HTmobile đã trình lên Bộ về cách tổ chức phân cấp loại cữa hàng nào, đại lý cấp nào của HT được phép đổi máy và hướng dẫn khách hàng. Bộ có lập ra đường dây nóng để hỗ trợ cho các đại lý , khách hàng trong thời gian HT thực hiện việc chuyển đổi không. Hiện tại HT đã thu lại hàng tồn của đại lý về đã gần 1 tháng nhưng tất cả các cũa hàng , đại lý của HT chưa nhận được một công văn nào từ HT về giá trị đề bù khi nào đại lý được nhận lại tiền của những hàng hóa bị tồn mà HT đã thu của đại lý. HT đã tự ý cho thu toàn bộ máy tính Tài sản của các đại lý mang về mà không có 1 công văn của lãnh đạo HT mobile gửi cho đại lý. Đơn cử tại TP Nha Trang HT đã hợp tác mở đại lý chuyên HT là CTY TNHH ĐÌNH KHIÊM đại lý cấp 1 tại 20 Ngô Gia Tự , đại lý không chuyên Mobimart , đại lý cấp 2 TÂN VIỄN THÔNG . Khi HT chọn đại lý để thực hiện việc đổi máy cũng như hướng dẫn khách hàng thay đổi công nghệ thì nhân viên HT đã chọn đại lý TÂN VIỄN THÔNG là nơi đổi máy còn đại lý chuyên HT ĐÌNH KHIÊM thì không được chọn để đổi máy , hướng dẫn khách hàng thay đổi công nghệ việc này Bộ có biết không?

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật, không quản lý theo dạng Bộ chủ quản như trước đây, vì vậy không can thiệp quá sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Bộ đang thẩm định đề ám của HT xin chuyển công nghệ, trong đề án chuyển đổi công nghệ của mình, HT đã có những phương án, giải pháp để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng như đổi máy, gửi thuê bao sang mạng S-Fone. Trong quá trình thực hiện, HT sẽ có những phương án cụ thể và thông báo tới những thuê bao của mạng. Bộ sẽ giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện này. Cụ thể về những đại lý mà bạn hỏi, Bộ sẽ chuyển câu hỏi này đến HT và yêu cầu HT trả lời bạn cụ thể.

Độc giả: Nguyễn Hoàng Tùng - Một huyện của Tỉnh Lào Cai
Tôi hiện nay đang làm Quản trị hệ thống Mạng Lan trong UBND huyện với mức lương 9 trăm nghìn đồng/tháng. Là một ngành đặc thù, đảm nhận công việc rất quan trọng nhưng mức lương lại quá thấp, không có phụ cấp. Tôi mong Bộ, nhiều ngành có chính sách ưu đãi cho Cán bộ Tin học, như tăng lương, phụ cấp hỗ trợ riêng như Hà Nội đã làm,làm Tin học thật lòng không thể có .... khoản khác được. Mong lãnh đạo Bộ quan tâm để những người như chúng tôi yên tâm công tác. Xin cám ơn

Lực lượng nòng cốt để triển khai ở cơ sở:

Bộ Bưu chính, Viễn thông trước đây (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã trình Chính phủ nghị định thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông). Các Bộ, ngành đều thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin hoặc Cục Công nghệ thông tin.

Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP, các Trung tâm Công nghệ thông tin hoặc Cục Công nghệ thông tin được gọi là đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin; ở địa phương Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan chuyên trách về Công nghệ thông tin (trong Sở có phòng Công nghệ thông tin và có Trung tâm Công nghệ thông tin - đơn vị sự nghiệp).

Thu nhập của những người làm công tác CNTT:

Đây là vấn đề chúng tôi đã trăn trở trong nhiều năm nay. Cơ chế chung của Nhà nước hiện nay về tiền lương có nhiều bất cập cho việc tuyển dụng các cán bộ làm công tác CNTT tại các Bộ, ngành và địa phương. Phải công nhận thực tế là có sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa khu vực nhà nước với doanh nghiệp, và với khu vực đầu tư nước ngoài. Sự bất cập này cũng xảy ra đốiv ới tất các các Bộ, ngành chứ không riêng gì lĩnh vực CNTT. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu cơ chế đặc thù để báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đầu tư cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT.

Vấn đề trả lương cho cán bộ công chức làm CNTT chắc chắn phải theo chế độ tiền lương chung của Nhà nước. Hiện nay Trung ương và Chính phủ đang có những chương trình, đề án để giải quyết vấn đề này. Chúng tôi khuyến khích các đơn vị làm công tác chuyên trách CNTT tại các Bộ, ngành và địa phương mở rộng hoạt động sự nghiệp để tạo thêm nguồn thu, từ đó có chính sách cải thiện thu nhập cho cán bộ làm công tác CNTT.

 

Độc giả: Nguyễn Đức Minh - Hà Nội
Xin được hỏi thứ trưởng: Thưa thứ trưởng, có vẻ như Bộ Thông tin và truyền thông đang mất dần quyền lực của mình trong nhiều vấn đề liên quan đến trách nhiệm quản lý của bộ? Xin dẫn ra đây hai ví dụ để chứng minh điều đó. Thứ nhất, mặc dù quan điểm của bộ là không muốn có thêm một mạng di động mới và bộ cũng đã báo cáo việc này lên Thủ tướng nhưng sau đó Thủ tướng vẫn đồng ý về mặt nguyên tắc về việc cho phép mạng GTel ra đời. Thứ hai, bộ đang rất lúng túng trong việc cấp phép 3G cho các mạng di động bởi chỉ có 4 giấy phép 3G được cấp trong khi Việt Nam có tới 7 mạng di động và được biết là bộ sẽ không được toàn quyền quyết định mạng nào trúng 3G dù tổ chức thi tuyển mà sẽ Thủ tướng quyết. Trong khi đó, các mạng đang "chạy" rất dữ.

Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý chuyên ngành. Việc cấp phép thiết lập hạ tầng mạng đã được qui định cụ thể trong hệ thống qui phạm pháp luật (Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và Nghị định 160/2004/NĐ-CP về viễn thông), trong đó có qui định việc cấp phép phải được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy hiện Bộ Thông tin và Truyền thông đang thực hiện theo đúng pháp luật và tôi không nghĩ là mất dần quyền lực.

Để tiến hành cấp phép trên nguyên tắc công bằng, minh bạch, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình TTg CP và được chấp thuận cấp phép theo hình thức thi tuyển. Đây là lần đầu tiên thực hiện theo phương thức này, chắc chẵn Bộ sẽ phải học hỏi kinh nghiệm các nước, xây dựng các qui trình và tiêu chí để phù hợp với tình hình nước ta như vậy chắc chắn không thể không có những khó khăn.

Độc giả: Hồ Xuân Phán - Sở BCVT TT Huế
Hiện nay một số địa phương trong đó có TT Huế, Lãnh đạo tỉnh chưa hiểu hoặc cố tình không hiểu về khái niệm truyền thông của ngành TTTT nên việc chọn Phó Giám đốc Sở BCVT quản lý nhà nước về truyền thông là người trước đây là phụ trách truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình của Tỉnh. Không phải chỉ riêng Huế mà nhiều Sở ở các tỉnh khác cũng có tình trạng xáo trộn tương tự. Vậy Lãnh đạo Bộ sẽ nghĩ gì và có cách nào giúp cho Lãnh đạo địa phương có khái niệm đúng về Ngành thông tin và truyền thông không nhằm giúp cho cơ sở làm tròn chức năng nhiệm vụ của Sở TTTT . Xin trân trọng kính chào

Sở TT&TT được thành lập trên cơ sở Sở BCVT và bổ sung thêm chức năng quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản (trước đây thuộc Sở Văn hóa Thông tin) và Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 xác định Sở TT&TT giúp UBND quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh 5 lĩnh vực chính: bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, báo chí và xuất bản. Để đảm bảo công tác quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông ở địa phương đạt hiệu quả, hiệu lực thì đội ngũ lãnh đạo Sở TT&TT cần phải có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng.

Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ có văn bản gửi Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về vấn đề này.

Đối với cán bộ lãnh đạo Sở: Bộ Bưu chính, Viễn thông trước đây (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ban hành Tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với Lãnh đạo Sở. Nay Bộ đang hiệu chỉnh để ban hành lại khi Bộ được bổ sung quản lý nhà nước về báo chí và xuất bản.

Độc giả: lương công đức - sở bcvt Phú Yên

Kính chào Thứ trưởng Trần Đức Lai 1/ Xin Thứ Trưởng cho biết việc quản lý các trạm BTS ở các địa phương trên cả nước được quản lý theo TTLT 01 và 12 về quản lý phát triển trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng BTS ở các địa phương hiện nay như thế nào? 2/ Bộ TTTT đã có Thông tư hay văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng chung trạm BTS chưa? Nếu có thì ở văn bản nào? tránh gây lãng phí việc đầu tư xây dựng nhà trạm và làm mất mỹ quan đô thị? 3/ Hiện nay theo tôi được biết tất cả thủ tục cấp phép về lĩnh vực BCVT, CNTT đều thông qua các cơ quan trực thuộc Bộ. Vậy Bộ có chủ trương chuyển những loại giấy phép nào về các sở địa phương cấp? quy định các loại phí và lệ phí mà tổ chức, cá nhân phải nộp? tránh việc mất thời gian đi lại của doanh nghiệp thực hiện theo chủ trương CCHC của Chính phủ. Xin chúc Thứ trưởng và gia đình sức khỏe, hạnh phúc. Cảm ơn Thứ trưởng! Chào trân trọng

Để đẩy mạnh phát triển mạng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện cải cách thủ tục hành chính đối với việc cấp giấy phép xây dựng trạm thu, phát sóng thông tin di động (BTS) mà vẫn đảm bảo không trái với Luật Xây dựng, Liên Bộ Xây dựng - Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT ngày 11/12/2007 hướng dẫn về cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình trạm thu, phát sóng thông tin di động ở các đô thị.

Theo đó:

+ Các trạm BTS được xây dựng trực tiếp trên đất (BTS loại 1), việc cấp giấy phép xây dựng thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 02/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng và theo khoản 2, mục I của Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT.

+ Các trạm BTS được lắp đặt trên các công trình xây dựng sẵn có (BTS loại 2) nếu thuộc Khu vực phải xin phép xây dựng thì cần có Giấy phép xây dựng. Khu vực phải xin phép xây dựng ở các đô thị bao gồm:

++./ Khu vực sân bay,  khu vực an ninh quốc phòng

++./ Khu vực trung tâm văn hoá, chính trị cần phải quản lý về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

++./ Các khu vực khác cần phải quản lý về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

+ Các trạm BTS loại 2 nằm ngoài Khu vực phải xin phép xây dựng thì được miễn Giấy phép xây dựng nhưng phải đảm bảo các điều kiện nêu tại Thông tư liên tịch 12 nêu trên.

1.2. Theo Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và Nghị định 160/2004/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng chung cơ sở hạ tầng. Việc sử dụng chung các trạm phát sóng sẽ tránh lãng phí nhưng việc sử dụng chung này cũng phải phù hợp với qui hoạch, thiết kế mạng của từng doanh nghiệp chứ không đơn thuần là việc lắp đặt các ăn ten trên cùng 1 cột. Ví dụ, cùng 1 cột, nhà khai thác A xây dựng và đã sử dụng vị trí về độ cao và hướng này rồi thì các nhà khai thác khác muốn dùng cùng độ cao và hướng đó sẽ không thể lắp đặt ăn ten vào đấy được nữa. Sắp tới nội dung này sẽ được qui định chi tiết hơn trong Luật Viễn thông.

Triển khai Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Công văn số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn các Sở BCVT cần cụ thể hóa các tiêu chí nhằm xác định phạm vi và công bố Khu vực phải xin phép xây dựng tùy theo tình hình quy hoạch xây dựng đô thị tại địa phương.

1.3./ Cũng theo Thông tư liên tịch số 12/TTLT/BXD-BTTTT và văn bản số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn trên, Sở BCVT cần nắm bắt, yêu cầu các doanh nghiệp đề xuất kế hoạch và báo cáo dự kiến vị trí xây dựng các trạm BTS loại 2 ở đô thị và trên cơ sở quy hoạch phát triển ngành trên địa bàn để thống nhất với Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan của địa phương để khoanh vùng, xác định phạm vi cần xin phép xây dựng. Đặc thù của viễn thông hoàn toàn khác với các lĩnh vực dịch vụ khác, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ mang tính toàn quốc, không thể có mạng công cộng chỉ cung cấp dịch vụ cho 1 tỉnh vì khả năng truy cập của bất kỳ 1 thuê bao nào trên toàn quốc (điện thoại, Internet) đến mạng, do vậy để thống nhất quản lý, tránh chồng chéo, đầu tư lãng phí thì việc quản lý việc cấp phép cần phải tập trung, đây cũng là thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam việc này đã được qui định tại Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và Nghị định 160/2004/ND-CP.

 


CƠ QUAN CHỦ QUẢN: BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG (MIC)
Giấy phép thiết lập Website số 01/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 7/8/2003.
Trưởng Ban biên tập: Vũ Hồng Hoà, Giám đốc Trung tâm Thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông.
Bản quyền thuộc Trung tâm Thông tin. Địa chỉ: 115 Trần Duy Hưng - Hà Nội;
Email: banbientap@mic.gov.vn, tt_tt@mic.gov.vn ; Điện thoại: 04.3.5563464; Fax: 04.3.5563458.
Ghi rõ nguồn "MIC" khi phát hành lại thông tin từ website này